Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search


[Tiểu Thuyết Huyền Huyễn, Trộm Mộ] Mô Kim Hiệu Úy Cửu U Tướng Quân- Thiên Hạ Bá Xướng

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

[Tiểu Thuyết Huyền Huyễn, Trộm Mộ] Mô Kim Hiệu Úy Cửu U Tướng Quân- Thiên Hạ Bá Xướng

Bài gửi by Lưu Hà on Wed Oct 19, 2016 2:09 pm



Tên sách: Mô Kim Hiệu Úy Cửu U Tướng Quân
Tác giả: Thiên Hạ Bá Xướng
Nhà xuất bản:  Quần Ngôn xuất bản xã
Thời gian xuất bản: Tháng 11 năm 2011
Người dịch: Đinh Thảo (edit), Lưu Hà (beta)
Nguồn: lachoncoc.com
**************



Biên tập đề cử:
"Mô Kim Hiệu Úy" là kiệt tác mới nhất của Thiên Hạ Bá Xướng, có thể sánh vai cùng bộ truyện nổi tiếng "Ma thổi đèn" ở thể loại thám hiểm truyền kỳ!

Giới thiệu nội dung:

Những năm 80 của thế kỷ trước, "Nhóm ba người" mô kim hiệu úy quyết định rửa tay gác kiếm tu chí làm ăn.
Không ngờ trong một lần ba người đi Tây An thu mua đồ cổ văn vật bị một người tên là Mã Lão Oa Tử chủ tâm hãm hại, thiếu chút nữa bỏ mạng.
Trong lúc vô tình vào Tần Vương Huyền Cung, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, còn thu thập được từ trong mộ hoang một hộp sắt mạ vàng.
Hộp sắt mạ vàng là một bộ kim sách (sách vàng), là bảo vật trấn quốc của Tây Hạ, trải qua mấy nghìn năm chưa hề bị hư hại.
Vật này vừa xuất hiện liền chấn động khắp giang hồ. Tổ ba người mô kim phát hiện bí mật kinh thiên động địa được lưu giữ từ nghìn năm trước.
Bọn họ lại một lần nữa lên đường, chuẩn bị tiến vào "Vong giả thế giới" (thế giới người chết), nghênh đón bọn họ chính là một hành trình u tối đầy mê hoặc!


Giới thiệu tác giả:

Thiên Hạ Bá Xướng là tác giả người Trung Quốc có óc tưởng tượng vô cùng phong phú, tác giả bộ truyện "Ma Thổi Đèn" vô cùng nổi danh trên diễn đàn Hoa ngữ. Tới nay là bộ tiểu thuyết được truyền bá rộng rãi bậc nhất tiếp theo các tác phẩm võ hiệp của Kim Dung.
Thiên Hạ Bá Xướng đã mang văn hóa thần bí của phương Đông kết hợp với yếu tố phiêu lưu mạo hiểm của văn học thế giới vào trong tác phẩm của mình, tạo ra một loại hình tiểu thuyết thám hiểm đậm dấu ấn Trung Quốc.
Điểm đặc biệt ở tiểu thuyết thám hiểm của anh luôn nằm ở hành động và suy nghĩ đầy thú vị của nhân vật trong các hoàn cảnh bất ngờ.
Anh đã không câu nệ mà thoải mái đưa vào truyện của mình các truyền thuyết cổ xưa, di tích thần bí, tình cảm anh em, sinh tử vô thường, cộng thêm câu từ hài hước, phong phú, đầy màu sắc, ngập tràn văn hóa dân gian khiến cho câu chuyện của tác giả xây dựng khác biệt với "giang hồ".
Tác giả đang sáng tác thiên tiểu thuyết vĩ đại "Mô Kim Phù" hệ liệt, kính mong độc giả đón nhận.

Nhận xét của truyền thông:

"Kim bài" giám chế Trần Quốc Phú:
Chữ cái đầu tiên của bộ sách được viết, ta giành mua bản quyền chuyển thể điện ảnh và truyền hình, lúc nhìn thấy chữ cái cuối cùng của sách, tác phẩm hoàn thiện, ta liền cảm thấy lúc trước mình thật may mắn!
Ta còn nghĩ tới một chữ: Đáng giá!


Đạo diễn trứ danh Ô Nhĩ Thiện:
Trong tác phẩm của Thiên Hạ Bá Xướng, mỗi người, vật đều vô cùng tươi mới, vô cùng có sức sống. Đám người "Mô Kim Hiệu Úy" có tình có nghĩa, có dũng có mưu, thoải mái đi về giữa hai giới âm dương sinh tử. Thiên Hạ Bá Xướng dùng óc tưởng tượng thiên tài của mình, sáng tạo một không gian mà con người có thể tự do xuyên qua giữa thế giới thực và thế giới kỳ ảo.

Diễn viên nổi tiếng Trần Khôn:
Thiên Hạ Bá Xướng luôn là tác giả mà tôi trân trọng, trí tưởng tượng của anh ta, năng lực điều khiển chuyện xưa của anh ta, phong cách ngôn ngữ của anh ta, cá nhân tôi đều vô cùng thích thú và tán thưởng.

Diễn viên nổi tiếng Hoàng Bột:
Điện ảnh của chúng tôi dựa vào "cao nhan giá trị" (bộ mặt được đánh giá cao), mà câu truyện đặc sắc của Thiên Hạ Bá Xướng, kỳ thật cũng là một loại "cao nhan giá trị".

Editor:
Một chút về nguồn gốc tên truyện: Từ ngàn năm trước, ở Trung Quốc đã có nghề trộm mộ, gồm bốn phái là Mô Kim, Phát Khâu, Ban Sơn đạo nhân và Xả Lĩnh. Mô Kim và Phát Khâu vốn từ một mạch mà ra nên thủ đoạn trộm mộ cũng gần tương tự nhau, Mô Kim có bùa Mô Kim không sợ tà ma, Phát Khâu có Ấn Phát Khâu, bên trên khắc tám chữ: Thiên quan tứ phúc, bách vô cấm kỵ”, cả hai đều được coi là bảo vật trấn phái. Đến thời Tam quốc, hai phái ấy được Tào Tháo sử dụng như một đội chuyên đi đào mộ. Tào Tháo đặt ra hai chức quan là Mô Kim Hiệu Úy và Phát Khâu Trung Lang Tướng để hợp thức hóa việc đào mộ quật mả của mình.



Được sửa bởi Lưu Hà ngày Tue Oct 25, 2016 3:19 pm; sửa lần 2.
avatar
Lưu Hà
Admin

Tổng số bài gửi : 164
Points : 288
Reputation : 1
Join date : 09/09/2016

Xem lý lịch thành viên http://lachoncoc.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Re: [Tiểu Thuyết Huyền Huyễn, Trộm Mộ] Mô Kim Hiệu Úy Cửu U Tướng Quân- Thiên Hạ Bá Xướng

Bài gửi by Lưu Hà on Tue Oct 25, 2016 2:34 pm

Chương thứ nhất: Thôi lão đạo bắn thiên cẩu



Click để xem:
1.
Từ cổ xưa, thời điểm vẫn còn hoàng thượng, thành Bắc Kinh, chín cửa thành đều có trấn vật. Trấn vật ở cửa thành phụ là bức chạm trổ hoa mai ở bên phải Ủng thành (bức thành nhỏ ở ngoài cổng thành). Vì cửa thành phụ vận chuyển than đá qua lại lâu ngày, đường đi bên dưới ám toàn than đá đen kịt, rất nhiều phu kéo lạc đà chuyển than cũng ở đó, mà chỗ họ ở không mấy cái giống nhà, chỉ toàn là "ly ba đăng" (hàng rào đèn). Thực ra "ly ba đăng" cũng vốn không phải là đèn, người nghèo ở đó không làm được nhà ngói, dựng đại mấy cây cột gỗ thành cái khung, trên nóc rải cỏ, lấy thân cây cao lương quét vôi trắng làm vách, người ở đó gọi là "Ly ba đăng".
Ở nơi bần cùng khốn khổ "Ly ba đăng" đó có một sạp bói quẻ. Tiên sinh xem bói khoảng chừng hơn ba mươi, vốn xuất thân từ gia đình đại phú, tổ tiên truyền lại ba cửa hiệu, một hiệu kinh doanh thư họa cổ, một hiệu kim châu bảo ngọc, một hiệu kinh doanh tơ lụa. Có điều truyền đến đời gã thì gia cảnh sa sút, của cải bạc vạn đều tiêu tán, gã cùng con gái nhỏ tới kinh thành bốc quẻ, với chút vốn hiểu biến trong bụng kiếm phần cơm tạm bợ.
Đối diện sạp coi bói của gã là một hàng sửa giày da, thợ giày tuổi chừng ba mươi, tướng mạo hung dữ. Nhà hắn ở Sơn Tây, vì đói kém thiếu nợ quá nhiều, bất đắc dĩ phải bán xới tới thành Bắc Kinh vận chuyển than đá kèm thêm nghề vá giày, cả ngày đi sớm về khuya, không nỡ ăn, không nỡ mặc, tính toán xem còn bao nhiêu tiền, mang về cho vợ con. Thầy bói có bụng dạ tốt, thấy thợ giày không có chỗ nương tựa, gặp khi mưa gió không mở hàng được đều mời thợ giày tới nhà gã ăn cơm, ngủ lại qua đêm. Qua lại thường xuyên, hai người liền trở thành bạn tốt.
Một hôm như vậy, thợ giày kiếm được một món bảo vật từ đồng hương. Vị đồng hương kia là một kẻ gian chuyên đào trộm mộ. Trước đó không lâu móc được một cái thúy ngọc ban chỉ (nhẫn đeo tay bằng ngọc bích), bóng loáng xanh biếc. Vương công quý tộc nhà Thanh cưỡi ngựa bắn tên, trên tay đều có ban chỉ, người bình thường không dám dùng.
Đồ này là đồ tốt, có điều đến lúc cần dùng tiền thì mấy mối béo bở đều bỏ của chạy lấy người, dưới chân thiên tử, trước mặt là vương pháp, ai mà không sợ rơi đầu chứ? Vị kia nhất thời không tìm được người mua, đành phải tới cầu cạnh đồng hương. Thợ giày cho rằng cơ hội tới rồi, có thể phát tài, liền bỏ tiền mồ hôi nước mắt khốn khổ suốt ba năm đổi lấy cái ban chỉ này. Hắn không dám trưng ra quầy hàng mà chạy thẳng đến tìm thầy bói. Đóng cửa lớn lại, hắn bảo thầy bói đốt đèn, rút gói vải từ trong ngực ra, mở tiếp mấy lớp da dày bọc bên ngoài, vừa mở vừa nói: "Thợ giày thối tôi, ở thành Bắc Kinh không ai vừa mắt, chỉ có lão huynh xem trọng, chiếu cố tôi không ít, đang không biết báo đáp thế nào thì trời liền cho tôi vận lớn. Tôi kiếm được từ trên tay bọn trộm mộ một cái ban chỉ. Vật này quý giá vô cùng, là một trong thập đại trân bảo của Thanh triều, Hãn Vương xưa chỉ huy quân Bát Kỳ (thuộc tộc Mãn của Trung Quốc) vào cổng thành, một con ngựa ba mũi tên định thiên hạ, chính là dùng cái ban chỉ này giữ dây cung!"
Thầy bói hoảng sợ nhảy dựng lên: "Trân bảo chôn theo vương tôn công tử đương triều không phải chuyện đùa, phải biết rằng da thịt còn có tình, vương pháp vô tình. Thành Bắc Kinh lại là nơi nổi tiếng nghiêm khắc, ngộ nhỡ bị buộc tội “nhanh tay lẹ mắt”, kẻ phạm tội bị chém đã đành, phần mộ tổ tiên cũng không yên nổi!"
Có điều dưới ánh nến, nhìn qua gói vải một chút, gã liền yên tâm nói với thợ giày: "Anh á! Còn không mau ra ngoài mua lấy cục băng ướp lạnh nó đi!"
Thợ giày khó chịu nói: "Ý anh là gì? Cần băng làm gì?"
Thầy bói nói: "Anh bị lừa chứ sao, cái này làm bằng đường thỏi, không mang ướp lạnh, nó chảy ra mất toi thì sao?. Thành Bắc Kinh này nơi nơi đều là "Lược giao hàng"(hàng giả), ngay cả thần tiên còn không tránh khỏi có lúc nhìn nhầm, cứ tưởng rằng được mối lợi, ai ngờ lại mắc mưu chịu thiệt. Toàn bộ tiền ba năm sửa giày cực khổ kiếm được đều đã không còn, gã lại là người ngắn học, nhất thời trong lòng bứt rứt không biết làm sao, liền chạy  ra nhảy xuống con sông đào hộ thành.
Thầy bói đuổi đến, mượn móc câu, kéo gã lên, khuyên nhủ một hồi lại đưa cho gã chút tiền, khuyên hắn bỏ suy nghĩ tự tìm cái chết.
Đảo mắt đã sang tháng Chạp, thợ giày từ biệt thầy bói về nhà ăn Tết. Thời gian này làm ăn không tốt, nghe nói vải bố Sơn Tây vừa bền vừa rẻ, thầy bói muốn đánh một lô hàng, nhân dịp cuối năm kiếm chút tiền chênh lệch giá, chủ ý đã định, gã cũng mang theo lộ phí đi Sơn Tây. Không ngờ giữa đường gặp phải chiến trận, chậm trễ mất mười ngày, nửa đường lại gặp loạn quân, gã hoảng hốt chạy bừa chốn vào núi hoang, đi mấy ngày không thấy đường.
Chẳng mấy chốc đã tới đêm ba mươi nhưng chỉ thấy mây đen dày đặc, gió bắc thổi qua, trời đầy tuyết giăng, núi non trùng điệp, thoáng trông không có dấu chân người. Thầy bói vừa lạnh vừa đói, đi không nổi nữa, nghĩ mình có lẽ phải chết cóng ở chỗ này. Chợt thấy trong gió tuyết có một căn nhà tường lở ngói vỡ, hình như có người ở, trong đó mơ hồ hắt ra ánh đèn. Gã thấy đường sống, vột vã chạy tới gọi cửa. Cửa nhà vừa mở, một người bước ra, vạn lần không thể ngờ, căn nhà này lại chính là nhà của thợ giày kia.
Thợ giày thấy thầy bói vẻ mặt đầy tiều tụy, vội vàng mời gã vào nhà, nấu canh nóng cho gã uống, thầy bói lúc này mới từ cõi chết trở về. Hai người hàn huyên lại nguyên do xa cách đều xúc động rưng rưng. Thợ giày kêu vợ con ra dập đầu trước ân công, vợ gã là người phụ nữ nông thôn bình thường, chưa từng thấy qua chuyện đời, thằng nhỏ nhỏ ước chừng bảy tám tuổi, bộ dạng khỏe khoắn, kháu khỉnh, tên mụ là Hổ Oa, thấy người lạ cũng ngại không dám lên tiếng.
Thầy bói vốn chạy thẳng một mạch tới nơi đây, không mang theo gì, sờ thấy trên người còn một cắc bạc vụn. Người Bắc Kinh coi trọng lễ nghĩa, ngày tết gặp trẻ nhỏ, đều phải mừng tuổi chút tiền. Thầy bói không có gì, lấy cắc bạc ra đưa cho Hổ Oa, Hổ Oa lắc đầu không nhận.
Thầy bói nói với thợ giày: "Anh xem thằng nhỏ nhà anh này, cũng thật là phép tắc quá đi, tôi cho nó bạc nó còn không nhận."
Thợ giày liền nói với Hổ Oa: “Bác con không phải là người ngoài, cho con bạc con có thể cầm."
Hổ Oa vẫn lắc đầu không chịu đưa tay ra nhận bạc.
Thợ giày nói: "Con còn nhỏ chưa từng nhìn thấy, không biết được là gì, cái này gọi là bạc đó!"
Hổ Oa nói: "Thứ này có rất nhiều, con cần nó làm gì."
Thợ giày nói: "Mồm con nít, cái gì cũng nói được, nếu như có rất nhiều bạc, cha với bác của con còn phải nghèo khổ như thế này không?"
Hổ Oa nói: "Thật là có cả đống mà, mấy ngày hôm trước con lên núi kiếm củi, nhìn thấy một sơn động, bên trong toàn là là thứ này."
Thợ giày cùng thầy bói nửa tin nửa ngờ, hôm đó ăn tối xong, nghỉ ngơi một chút liền lên giường đi ngủ. Qua ngày hôm sau, gió tuyết ngừng, thợ giày bảo Hổ Oa dẫn bọn họ đi xem. Ba người đi vòng sau thôn, quanh co trong núi một hồi thì tới một chỗ, trên sườn núi chỗ đó chôn một tấm bia đá. Trải qua thời gian quá lâu tấm bia đã bị vỡ, xung quanh cỏ ngải mọc um tùm che kín. Hổ Oa gạt cỏ dại sang hai bên, phía dưới là một huyệt mộ. Thợ giày bảo Hổ Oa chờ ở bên ngoài, hắn và thầy bói đốt đuốc, xách dao đốn củi một trước một sau đi vào.
Vừa giơ đuốc lên soi liền thấy trên sườn bia đá có chữ viết: "Ngộ hổ nhi khai, hữu long tắc hưng" (Gặp hổ thì khai mở, có rồng thì hưng thịnh). Hai người tôi nhìn anh, anh nhìn tôi đều không nói được lời nào. Lại thấy bốn chiếc rương nằm đó, nắp rương mở một nửa, phủi bụi đất đi, bên trong toàn là đĩnh vàng bạc nguyên bảo (đĩnh vàng hoặc bạc thời xưa, một đĩnh bạc thường nặng 50 lượng, một đĩnh vàng thường nặng 5 hoặc 10 lượng), hai người nhìn thấy mắt đều dựng lên.
Trong huyệt mộ cũng không có quan tài, chỉ có một bộ xương khô nằm rải rác trên bệ đá, không biết là người nào. Bên cạnh đặt một cái tráp bọc da phủ đầy tro bụi.
Hai người lạy bộ xương khô vài cái, tiến tới mở cái tráp da ra, bên trong tráp là một quyển sách cổ, trang sách vô cùng cũ nát.
Thợ giày vốn không biết nhiều chữ nghĩa, chỉ dán mắt vào vàng bạc trong rương, hắn nói với thầy bói: "Trời cho hai cha con tôi phát tài, lúc trước không nhờ có lão huynh cứu giúp thì tôi cũng không thể có ngày hôm nay, bốn rương vàng bạc này, chắc là nên chia đều đi."
Thầy bói ngẩng đầu, qua làn ánh sáng thấy mặt gã thợ giày hiện lên như ác hổ hung tợn muốn lập tức cắn xé người. Thầy bói vốn là kẻ hiểu biết, có một câu thành ngữ thế này "Nói chuyện nghe thanh mà, chiêng trống nghe âm nhi" (Ý là qua giọng điệu của muột người mà đoán biết tính cách của họ, qua âm thanh của chiêng trống mà phán đoán nó tốt xấu), nghe qua lời trong lời ngoài của gã thợ giày, thầy bói cũng có thể hiểu được, trong lòng lay động, vội nói: “Lão đệ nói gì vậy, không phải nhờ anh cứu giúp, tôi cũng đã chết ở chân núi rồi, cho nên anh vốn không có nợ tôi. Con của anh tìm được cổ mộ, đồ bên trong đó đều là của nhà anh, mệnh trời đã như vậy, lại có thể tính toán được sao!"
Thợ giày vẫn nói muốn chia đều: "Ít nhiều huynh cũng phải lấy một chút chứ, không thì chính là huynh khinh thường tôi đó."
Thầy bói đành nói: "Vậy thế này đi, bốn rương vàng bạc toàn bộ đều là của anh, quyển sách cổ trong hộp thì cho tôi."
Thợ giày hỏi: "Trong sách có đạo pháp thần binh hay sao?" (ý là pháp thuật của đạo gia như đuổi ma, trừ tà…)
Dưới ánh đèn cầy, thầy bói thử lật giở trang sách, cuốn sách dường như viết về bí quyết "tầm long chi thuật" (thuật tìm long mạch trong phong thủy), xem ra bộ xương khô trong mộ kia khi còn sống là một vị "Thiên quan" (chỉ người trộm mộ), dân bản xứ ở đây có truyền thuyết về "Thiên quan" nhân, gần giống với chân nhân trong đạo gia, hiểu biết bát quái, thông tỏ âm dương, có thuật tầm long.
Thợ giày vốn không hiểu biết gì, hắn là "Tỉnh để chi oa, sở kiến bất đại; huỳnh chúc chi quang, kỳ lượng bất viễn", (Tạm dịch là: ếch ngồi đáy giếng, việc trông thấy không nhiều, chỉ như ánh sáng đom đóm phát không xa - Trích từ 《 Phong thần diễn nghĩa 》), vừa nhìn thấy không phải là đạo pháp thần thông gì, hắn cũng không muốn tranh giành, liền tiện thể đưa luôn cho thầy bói. Đào bới đồ trong cổ mộ, dù sao cũng đã phạm vào vương pháp, chia cho thầy bói một chút cũng có thể khiến cho gã ngậm miệng, thợ giày liền an tâm.
Hai người thu dọn đồ xong liền hướng về phía bộ xương khô lạy ba lạy, đào huyệt mai táng, sau đó mang bốn rương vàng bạc kia xuống núi. Nói đến mấy chiếc rương, chính là loại rương đặt trên giường lò của vùng nông thôn Trung Quốc, một chiếc đặt dọc theo vừa vặn bằng mép giường, một chiếc đặt ở đuôi giường sát mép tường, nhét vừa hai người lớn. Trong rương chứa đầy vàng bạc, một mình mang không nổi, hai người gói lại cho vàng bạc vào từng bao cõng mấy ngày mới hết. Thầy bói không dám ở lâu, sau khi từ biệt thợ giày liền ra đi suốt đêm. Về đến ngoài cổng thành rồi nghĩ lại mà trong lòng vẫn còn run.
Gã xuất thân là gia đình tài phú, lúc hạ sinh gã mẹ gã mơ thấy có hổ đến cướp, không biết lành dữ thế nào, nên mới đặt tên cho gã một chữ  "Triết" (thông minh, sáng suốt), tự là "Ngộ Hổ" (gặp hổ). Nửa câu đầu khắc trên bia đá là "Ngộ hổ nhi khai" (Gặp hổ thì mở), chẳng phải là chỉ gã đó sao? Gã cũng nhìn ra thợ giày là người thế nào, cũng bởi quá bần cùng, nghèo khổ mà ra, người như vậy đừng để cho hắn thấy hơi tiền, thấy hơi tiền liền nổi máu tham, không có chuyện gì là không làm được.
Sau khi trở về, thầy bói vẫn mở hàng ở gò đất bên cổng thành xem bói, những lúc vắng khách, gã lại mở xem sách cổ, ghi nhớ từng câu từng chữ trong lòng. Trang cuối cùng cuốn sách chỉ có bốn câu: "Cần tìm chính xác để xem hình dạng thật, quẻ âm dương cân nhắc trong lòng. Sáu mươi tư quẻ không có quẻ nào biết được, chỉ e rằng tầm long đến tận cùng chỗ ấy..." Bên dưới vẽ một quẻ đồ hình, trong hộp da còn dấu một miếng ấn quan, trên có hai hàng chữ Triện (chữ cổ): "Thiên quan tứ phúc, bách vô cấm kỵ." (Thiên quan ban thưởng, không gì kiêng kỵ).
Gã là người có căn cốt thông tuệ, người khác xem có thể không hiểu, đến tay gã vừa xem liền hiểu ngay, vì vậy cũng học được căn cơ của thuật tầm long. Sau đó người này không chỉ biết xem bói, còn kiêm luôn cả xem phong thủy cho người, phán chính xác cả chuyện âm dương, từ đó danh tiếng nổi khắp thành Bắc Kinh.
Không ngờ có một ngày thợ giày lại tìm tới nhờ xem phong thủy, kể rằng sau khi phát tài, những thứ người sống nên có gã đều có, cuộc sống tột cùng sung túc, liền nghĩ tới liệt tổ liệt tông, hắn không chỉ muốn xây Từ Đường mà còn muốn di dời phần mộ tổ tiên, đến nhờ thầy phong thủy tìm giúp hắn chỗ đất phong thủy hưng vượng.
Thầy xem bói nghe người đồn đại: "Thợ giày làm giàu bất nhân, lòng tham không đáy", không định qua lại với người này nữa, có điều biết người này vốn không thể chọc vào. Liền trầm ngâm một hồi lâu rồi nói: "Một phần đất tốt một phần phúc, phúc phần không đủ, chiếm vô dụng. Người vô phúc mộ tổ tiên chôn ở đâu cũng vô ích. Anh cứ suy nghĩ thật kỹ, nếu như thật sự động phần mộ tổ tiên, tương lai cũng phải làm thêm nhiều việc nhân nghĩa. Không cần tìm đâu xa, ngọn núi phía đông huyện thành của anh chính là long mạch. Đón thần tránh quỷ, mộ phần không định trước, không được tự ý dời quan tài mà phải theo đúng thời gian tôi chỉ dẫn mà khiêng quan tài ra ngoài, cứ hướng lên núi mà đi, lúc nào dây thừng nâng quan tài đứt, chỗ đất quan tài rơi xuống chính là long huyệt!"
Thợ giày hỏi thầy xem bói thời gian cụ thể rồi về nhà chuẩn bị, dời quan tài trong phần mộ tổ tiên vào từ đường cúng bái. Lễ động thổ dời mộ cũng được tổ chức như đưa tang lần thứ hai. Hắn tiền muôn bạc vạn, bày trò phô trương lãng phí, trước thời hạn đã định hắn rình rang dựng lều phía trước từ đường, niệm kinh, làm đạo trường (nơi làm phép thuật của thầy thu hay đạo sĩ), mời danh quán "Tụ hợp thuận" tới đặt tiệc tang lễ, đặt mấy chục bàn, rượu thịt trên bàn như nước chảy, chỉ có thiếu người chứ không thiếu tiệc. Cho dù là người không quen biết, chỉ cần tới dập đầu hai cái là có thể tùy ý ăn uống. Lại tìm hơn một trăm hòa thượng, đạo sĩ, ni cô, lạt ma, niệm "ngũ phủng đại kinh", mở pháp hội sơn hào hải vị đầy nhà.
Lần đưa tang thứ hai này, dây dưa tới hơn một trăm ngày, theo giờ tốt đã định khiêng quan tài ra khỏi thành. Theo lệ cũ chú ý "Đổi mộ phần không đổi quan", tránh mở quan tài kinh động tổ tiên, chỉ làm một cái lọng lớn che bên ngoài quan tài, lọng được trang trí bằng ngọc bội Vân Hải, mép viền vàng, kim tuyến, rủ xuống tua vàng, cần bao nhiêu khí thế có có bấy nhiêu. Thời đó quan tài phủ lọng, sáu mươi bốn phu khiêng đã là hoành tráng lắm rồi, thợ giày còn chơi trội dùng xà kép, thuê một trăm năm mươi phu khiêng đòn thay nhau nâng quan.
Đội ngũ mở đường phía trước mang đăng (thứ đồ dùng để đựng đồ cúng), cờ, chiêng, ô, lọng, giáo mác búa rìu hướng lên trời, lại có hai đoàn nhạc công, vừa vặn một trăm lẻ tám đồng nam đồng nữ, ai nấy đều bưng lư hương, khói hương lượn lờ. Đội ngũ phía sau mang theo ‘tang phổ”, là thứ mà trước kia người ta hay dùng để thị uy. Chắc các bạn sẽ thắc mắc: "Phổ là cái thứ đồ chơi gì?". Giống như quan chức đi tuần có mộc bài, trên viết "Yên lặng, tránh đường" gọi là “quan phổ”, "quan phổ" cũng được dùng để chỉ người miệng lưỡi kiểu cách, ra vẻ quan cách.
Tang phổ là loại phổ nhiều màu sắc, đầu thẻ gỗ bôi phấn vàng, hai bên có treo đèn lồng tua rua, trên viết tên họ, đạo hiệu, ngày sinh cùng với ngày giờ mất. Thời đó người ta quan niệm có đạo hiệu có thể thăng thiên, tổ tiên hắn còn nghèo hơn cả hắn, lúc chết chỉ có ông nội hắn là có được cỗ quan tài còn lại toàn bộ đều ném ở núi hoang làm mồi cho chó hoang, đại danh không có, lấy đâu ra đạo hiệu, cái này cũng là sau khi giàu có hắn bỏ tiền ra mời người về phong cho. Một nghìn tám trăm người tiền hô hậu ủng đưa quan tài phủ lõng ra khỏi huyện thành đi về phía đông, gióng chống khua chiêng, uy thế rung động cả vùng.
Ngoài cửa đông của huyện thành có một ngọn núi không cao lắm, thế núi vững trãi. Nhóm người khiêng quan tài lên trên sườn núi, chợt thấy dây nâng quan tài đứt, lập tức đào huyệt mộ chôn quan tài. Ứng với âm dương phong thủy trong câu nói kia.
"Hữu địa phi nhân bất hạ, hữu nhân phi thì bất hạ". Những lời này nghĩa là gì? Tức là có đất phong thủy tốt không có người thích hợp thì không chôn được. Có người thích hợp nhưng không vào giờ phù hợp thì cũng không chôn được. Thợ giày có được thời vận này, phần mổ tổ tiên nhà hắn có được vị trí vô cùng đắc địa, nếu không phải người tinh tường thì nhìn không nhìn ra được. Nếu là người có con mắt nhà nghề, nhìn qua liền giật mình. Ngọn núi phía đông huyện thành hình dạng giống như một cái ghế ngồi đối diện với cổng thành phía đông, giống như một cái bàn thờ thiên tạo vậy, nhân dân trong trấn ngày ngày nhóm lửa thổi cơm, chẳng khác nào bày đồ cúng phần mộ tổ tiên nhà hắn. Quanh năm suốt tháng không ngày nào không thờ phụng. Đối với phong thủy mà nói, vừa hay hợp thành một cách gọi là "Nhật hưởng thiên trác cung, dạ thụ vạn trản đăng" (Ngày hưởng ngàn mâm cúng, đêm nhận vạn ngọn đèn).
Theo Yêu Giản Thư nói lại, từ khi thợ giày dời phần mộ tổ tiên, hắn giống như gặp được vận  lớn, làm gì cũng phát tài, mà không chỉ vận làm giàu, quan lộc của hắn cũng suôn sẻ, có thể nói là một bước lên mây. Về sau, con của hắn cũng làm quan, nhận nhiều bổng lộc, thăng chức rất nhanh. Tục ngữ có câu: "Lão miêu phòng thượng thụy, nhất bối truyền nhất bối" (đại khái nghĩa là con mèo ngủ trong buồng đã quen, thì đời sau của nó cũng vậy - ý chỉ tính nết di truyền), lòng tham của hắn cũng truyền lại, con của hắn còn tham lam hơn hắn, tiền càng nhiều thì càng tham lam, tâm địa càng đen tối, đảo mắt đã vô ơn, lừa trên gạt dưới, tàn hại người lương thiện. Hai cha con hắn lo lắng có người tới phá phong thủy phần mộ tổ nhà mình, nghĩ ra một kế nhổ cỏ tận gốc. Liền ra lệnh cho thủ hạ mời thầy bói tới xem phong thủy cho từ đường nhà mình, nửa đường đánh lén một gậy, cột vào tảng đá lớn rồi ném xuống sông Hoàng Hà.
Thầy bói trước khi đi đã dặn dò vợ nhiều lần: "Thợ giày lần này tìm ta, chỉ sợ là lành ít dữ nhiều. Nếu ta không chỉ điểm long mạch cho người khác cũng không đến mức lãnh họa sát thân này. Ta tự làm tự chịu, không oán hận ai được. Các ngươi nhanh chóng trốn về quê, rồi chôn quan ấn và sách cổ, đời sau của ta không được phép ăn chén cơm phong thủy này nữa, cũng không cần báo thù cho ta, không quá ba năm, kẻ thù ắt gặp báo ứng."
Không ngoài dự đoán của gã, ba năm trôi qua, tường thành phía đông huyện thành vì quá cũ nên đổ sụp, cửa thành bị đá rơi xuống bịt lấp lại. Chỗ đó ngày một suy sụp, nghèo khổ. Nhà nước không cấp bạc sửa lại cổng thành, lý do vì phía đông đều là núi, không có người lui tới, còn lại ba cửa thành vẫn đủ dùng, cửa đông bị phá hỏng cũng không quan trọng.
Chỉ có điều không ai biết được cửa thành này bị lấp đã chặn đi nguồn thờ cúng của tổ tiên gã thợ giày kia, giống như người ở trong phòng kín thở không nổi, gia thế ngày một xuống dốc không phanh. Vận làm quan của cha con hắn cũng chấm dứt, bị hạch tội khi quân phạm thượng, cả nhà bị tịch thu tài sản, cả nhà bị chém, phần mộ tổ tiên đều bị san phẳng.
Về phần hậu nhân của thầy bói, vẫn luôn sinh sống ở nông thôn, gia cảnh vẫn nghèo khó, cũng không còn xem long mạch cho người khác. Tổ truyền như vậy, truyền đến đời Bạch Bán Lạp, quan ấn cùng với sách cổ vẫn chôn ở quê nhà, trước sau không dám dùng tới. Bạch Bán Lạp có người huynh đệ kết nghĩa, tên là "Hạt Lão Nghĩa" (Lão Nghĩa Mù), theo sư phụ học phép thần thông, thầy của hắn là Kim Toán Bàn, sư tổ là Trương Tam thái gia, tất cả đều là Mô kim hiệu úy tiếng tăm lừng lẫy, nói tới thủ đoạn đào trộm mộ, không mấy người qua nổi anh ta. Chỉ có điều Hạt Lão Nghĩa thị lực không được tốt, ban ngày ban mặt ra cửa cũng có thể đâm đầu vào tường nên không ăn nổi chén cơm này.
Hạt Lão Nghĩa nghe Bạch Bán Lạp kể lại chuyện của tổ tiên mình thì nói: "Thứ mà Tổ tiên anh trước kia truyền lại gọi là "Lăng Phổ", còn gọi là bí quyết tầm long, thực tế không phải là sách về xem âm dương phong thủy trên giang hồ, mà chính là Phát khâu mô kim bí quyết. Sách của sư tổ tôi là Trương Tam thái gia truyền dạy lại cũng chưa được đầy đủ, toàn vẹn bằng sách này, cái kia mới dạy mười sáu chữ ứng với mười sáu quẻ, còn cái này là những sáu mươi tư quẻ ứng với sáu mươi tư chữ. Ấn kia là Phát Khâu ấn, là vật chí bảo từ cổ xưa, sao lại có thể bị chôn vùi ở nơi trần tục thế này. Một người không thể đoạt bảo vật từ âm ty, cần có năm ba tinh hoa nhân lực, nhiều cũng vô dụng. Anh hãy nhập bọn với chúng tôi, chỉ cần hai người chúng ta lĩnh xướng là có thể xuất nhập chốn âm dương như đi trên đất bằng!"
Bạch Bán Lạp khi đó nghèo đói tới mức sắp không có gì ăn rồi nhưng vẫn mặc cho Lão Nghĩa khuyên sống khuyên chết, một mực không động tâm. Không phải gã không muốn phát tài, cũng không phải là không có lá gan, vậy thì lý do tại sao?
Cái đó cần phải xem lại chuyện trước kia, lúc gã còn là một tiểu tử chừng mười tuổi, không người thân thích, chạy nạn đến biến giới Liêu Hà, sống bằng nghề chăn trâu thuê. Ở nơi đó, ông  chủ gọi bọn đầy tớ nhỏ như gã là tiểu bán lạp, nghĩa là làm một nửa việc, ăn một nửa cơm. Ông chủ này của gã tuy không phải là địa chủ, nhưng có mấy thưởng đất (1 thưởng = khoảng 1ha), hai con trâu cùng vài con la, ngựa, tìm tiểu bán lạp để ban ngày chăn trâu, ban đêm cho gia súc ăn, một ngày cho gã hai bữa cơm, buổi sáng ăn khô, buổi chiều ăn cháo loãng.
Phía đông nhà có một cái sân, phòng lát gạch vuông, tường cũng lát gạch vuông. Đầu phía tây gần một tòa điện trấn sông, trong điện thờ Long Vương, lâu rồi không ai hương khói, giăng đầy bụi đất mạng nhện, bên ngoài hiên đã sụp một nửa. Đền tuy rằng đổ nát nhưng truyền thuyết nói rằng nơi này có thần tiên.
Ông chủ là người từ nơi khác đến, vốn không tin ba cái chuyện cũ rích kia, lại muốn mở rộng sân viện, hắn mượn bức tường phía sau điện trấn sông, làm hai gian nhà gạch mộc. Tường điện bằng gạch viên, tường nhà làm bằng gạch mộc đắp đất, ba mặt tường nhà đất bám lấy một mặt tường gạch. Dù sao người cũng không dám ở, chỉ để làm kho chứa củi nên cũng không lo sụp. Trước vựa củi làm một cái chuồng gà, nuôi một ổ gà, hàng ngày đẻ trứng. Mỗi buổi sáng cũng nhặt được khoảng hai chục trứng. Ở góc vựa củi có một cái hũ lớn đựng trứng có nắp đậy rồi lại dùng tảng đá chẹn lên trên để tránh cáo hoang ăn trộm. Nhưng điều kỳ quái là, qua ngày hôm sau nhìn vào hũ, toàn bộ trứng bên trong đều không thấy, chỉ còn lại vài cái vỏ trứng rỗng.
Từ lúc có vựa củi, trứng gà ông chủ đặt trong hũ không giữ được quả nào. Cái hũ kia vừa sâu vừa lớn, mèo chui vào đó cũng không ra được, lại dùng một tảng đá lớn đè lên trên, vậy thứ gì có thể mang trứng đi đây?
Người khai hoang làm ruộng, vốn không muốn gây thù chuốc oán, có điều nhịn không được, ba lần bảy lượt mất trứng cũng không phải là việc nhỏ nữa rồi. Ông chủ đứng ngồi không yên, sau khi trời tối, một mình hắn ngồi xổm ở bên ngoài vựa củi, đợi tới nửa đêm thì nghe được bên trong có tiếng động. Vựa củi làm bằng gạch đắp đất, trên nóc phủ cỏ tranh, che không kín hết. Ông chủ vịn cửa nhìn vào chỉ thấy ánh trăng đầy trời, sương giăng đầy đất, một con rắn lớn từ giữa nóc nhà trườn xuống, chỉ thấy đầu mà không thấy đuôi, nó dùng đầu đẩy tảng đá trên hũ đi, nuốt từng quả từng quả trứng gà, quấn trên xà giũ vài cái rồi phun vỏ trứng ra, rồi lại bò lên nóc nhà đi mất, chớp mắt đã không thấy tung tích.
Ông chủ xem rõ rồi, sợ tới mức lông tóc trên người dựng đứng, đầu túa ra đầy mồ hôi. Một hôm, hắn dẫn người tới điện bắt rắn, mọi người đều khuyên hắn, rắn lớn như vậy không thể đánh được. Hắn căn bản không nghe, lo rằng sau này khó mà sống yên ổn được, liền đem theo mấy người gan lớn, cầm súng săn đi vào, tìm trong ngoài vài lần cũng không phát hiện con rắn, gần đỉnh điện tìm thấy một cái hang lớn. Nghe người dân xung quanh đó nói lại, điện này có từ thời Liêu, quy mô vô cùng lớn, thời đó hương khói cực phồn thịnh. Rất nhiều người cao tuổi đã từng gặp "xà tiên" ở đây, có khi xà tiên quấn trên cột, có khi lại cuộn tròn ở đỉnh điện, miệng to như cái chén, vảy đen lưng bạc, có công che chở điện cho Long Vương, chưa từng gây hại. Còn có một lão đầu bán dầu chiên nói, năm đó lão gánh thúng qua đường, thấy một con rắn dài lượn quanh đỉnh điện ba vòng như đang tìm rạch nước để uống. Dưới nóc hiên có một cái động, có lẽ là động rắn, để cho rắn lớn trấn điện lui tới.
Người xưa ít ai không mê tín. Gia đình ông chủ mặc dù là người nơi khác đến khai hoang nhưng nghe dân bản xứ khẳng định như vậy, cũng nghi ngờ không biết có phải là thật hay không, khó tránh khỏi cảm thấy sợ hãi, mặc dù vẫn sai người đi đánh rắn nhưng không ai dám đi. Gã nhanh trí nghĩ ra một cách, ra ngoài tìm gỗ đẽo thành hai mươi quả trứng gà, độ lớn như trứng thật, bên ngoài quét phấn trắng, đặt vào bên trong hũ ở vựa củi, phía trên vẫn dùng tảng đá đè lên.
Nửa đêm hôm ấy, ông chủ lại nằm sấp ở ngoài cửa nhìn vào bên trong, con rắn lớn từ nóc nhà bò xuống nuốt trứng gỗ trong hũ, dốc sức quấn trên xà một hồi lâu, có điều ăn cả một bụng trứng mà không ép vỡ được, dùng nhiều sức lực mà cũng không nhả vỏ trứng ra được, nôn nóng đập loạn xạ khắp nơi. Ông chủ hết hồn liền trốn vào trong buồng trong, không dám nhìn nữa.
Sau đó, tới hừng đông qua xem vựa củi, vẫn không nhìn thấy xác con rắn, không biết chết ở đâu.
Một buổi sớm, tiểu Bán Lạp ra bờ sông chăn trâu, nhìn thấy con rắn lớn chết ở dưới tán cây, cuốn mấy vòng quanh thân cây, bụng bị vỏ cây mài rách, hai mươi mấy quả trứng gà gỗ rụng đầy đất, vết máu loang lổ khắp nơi. Nó không đành lòng liền đào đất chôn. Ngày hôm đó thời tiết nóng bức ngột ngạt, trâu không ăn cỏ mà nằm ở bờ sông hóng mát, nó ngồi trên lưng trâu, bỗng không biết một lão nhân từ nơi nào đến, nó thấy người này rất quen, chỉ có điều không nhớ nổi đã từng gặp qua ở đâu.
Người đó đến trước mặt nó, không nói gì mà chỉ đưa cho nó một con cá mời ăn.
Tiểu Bán Lạp nói: "Tôi không quen biết ông, vì sao vô duyên vô cớ lại mời tôi ăn cá?"
Người kia nói: "Ngươi không cần hỏi, mau ăn đi! Ngươi ăn con cá này rồi, từ nay về sau sẽ không còn là người bình thường nữa!"
Tiểu Bán Lạp nghe không hiểu gì: "Không phải người bình thường? Tôi khác người chỗ nào?"
Người kia nói: "Ngươi ăn con cá này, toàn thân có sức lực, chờ khi trời tối, ngươi trèo lên nóc hiên của điện trấn sông, ba ngày không bị đói, qua ba ngày, ngươi trở xuống lại con đường này, đi đến cuối đường có một tòa Kim Loan điện, trong điện đó bên trên là vua, bên dưới là hạ thần, bên phải là quan võ, bên trái là quan văn, ở đó có một chỗ dành cho ngươi, đó là một tòa tháp chắn trước Kim Loan điện. Ăn con cá này, ngươi mới đi được ..."
Tiểu Bán Lạp nghe không hiểu lời nói của lão nhân kia, có điều đang lúc đói bụng liền nhận cá, ăn vài miếng. Mới ăn chưa hết một nửa thì ông chủ tới đạp nó một đạp, mắng chửi không chịu chăn trâu cho tốt lại ngủ gật ở bờ sông. Nó hoảng hốt xem lại thì trong tay không có cá, người lạ trước mặt cũng không thấy đâu, hóa ra là một giấc mộng, nhưng nó cũng không thấy đói bụng nữa.
Đuổi trâu trở về, đi qua điện trấn sông, đột nhiên nhớ ra hình dáng lão nhân kia tại sao lại giống với Long Vương thờ trong điện như vậy? Trong lòng nó vô cùng khó chịu, nửa đêm, cho gia súc ăn xong liền trèo lên nóc hiên đại điện, nhìn khắp mọi nơi, không thấy điều gì bất thường, đang lúc buồn bực thì chợt thấy biến cố kinh hoàng.
Đúng lúc nó định trèo xuống thì nghe phía xa xa tiếng động ầm ầm, giống như âm thanh của thiên binh vạn mã, Liên Hà lụt lớn rồi. Chỉ chớp mắt lũ lớn đã tràn đến, phòng ốc, gia súc của ông chủ cùng cả nhà lớn nhỏ đều bị hồng thủy nuốt hết, chỉ có điện trấn sông là không bị lũ xô đổ, người dân mê tín cho rằng Long Vương tới báo thù.
Tiểu Bán Lạp trốn ở đỉnh điện, tránh thoát được một kiếp nạn. Hồng thủy ba ngày mới lui, ba ngày nó không ăn không uống, cũng không biết tại sao vẫn cầm cự được.
Đợi tới lúc lũ rút đi, nó mới trèo xuống tìm đồ ăn, đi nhiều ngày nhưng không tìm thấy Kim Loan điện đâu. Sau đó nghe người ta đồn đại: "Trên giang hồ có một người là Thôi lão, là thầy tướng số tinh thông phép thuật." Nó liền nảy ra ý niệm đi tìm Thôi lão.
Nhắc tới Thôi lão kia, trước tiên cần nói rõ nguồn gốc của gã, phía đông thành Thiên Tân nước Vệ có một tòa miếu thờ rất lớn, tục gọi là "Nương Nương Cung", thờ thánh mẫu nương nương. Miếu lớn, thần tiên được thờ cúng trong miếu cũng nhiều. Chính điện ở giữa thờ thánh mẫu, tiền điện thờ Vi Đà, chếch một bên cạnh thờ tứ đại kim cương, còn cả con cháu nương nương cùng thiên nhãn của nương nương. Hương khói quanh năm suốt tháng không ngừng. Thiện nam tín nữ đến đây thắp hương bái tế cầu con nối dõi thì tìm điện tử tôn nương nương,  bệnh về mắt thì cầu thiên nhãn nương nương. Đều không tới tay không, đốt hương xong, ít nhiều đều cung tiến một chút gọi là tiền đèn đuốc, tiền dầu thắp.
Thời đó trong miếu có một lão đạo trụ trì, chuyên thu tiền nhang đèn. Càng nhiều người đến cúng bái, lão càng kiếm được nhiều tiền. Lão còn thu hương chưa tàn hết, bán cho nhà làm hương, tái chế rồi lại mang bán ở trước cửa miếu, bản chất là kinh doanh không vốn. Từ xưa có câu nói rằng: "Thắp hương không được bỏ sót thần", người đến miếu cầu thần, cần có thành tâm, phải phục lạy lần lượt các điện, dâng hương xung quanh, cả con cháu của lão nương nương cũng phải cúng. Khi đó, làm ông từ ở "nương nương cung", chỗ nào cũng có thể thu tiền, thật đúng là “cật hương uống cay” (ý nói cuộc sống rất xa xỉ), cho dù là Huyện thái gia cũng không sánh bằng.
Tiền điện, chính điện và hai điện hai bên của nương nương cung hương khói ngày càng vượng, hậu điện ngược lại vô cùng đìu hiu. Do hai nguyên nhân chính, thứ nhất do vị trí hẻo lánh, thứ hai chính là vì hậu điện thờ vị "Vương Tam nãi nãi". Có lẽ bạn đang nghĩ tới Hồ Tam nãi nãi, Hồ Tam thái gia, không cần hỏi cũng biết là hồ tiên, trong thành còn có miếu Hồ Tam thái gia, nhưng ba thái gia trong miếu Hồ Tam đó vốn không liên quan gì tới Vương Tam nãi nãi. Đến nỗi vị Vương Tam nãi nãi được thờ trong hậu điện là ai, thực ra cũng không ai biết. Nhìn qua thì tượng Vương Tam nãi nãi tạc bằng gỗ, không thấy mũ phượng, khăn quàng vai, áo quan, đai ngọc, cũng không có tướng mạo lão bà phúc hậu, dáng vẻ giống như một mụ già quê mùa, trông rất khó coi?. Vì thế qua mười năm mở hội, tiền điện luôn tấp nập chen chúc tới ngã ngoài cửa miếu mà hậu điện cũng không mấy khi được hương khói tử tế.
Không biết từ khi nào, quan phủ bỗng ban bố một quy định, bố trí một nhóm đạo sỹ luân phiên trông coi hậu điện. Đạo sỹ không ở tại miếu, mà nhà ở trong vùng, bình thường không mặc đạo bào. Mỗi người đảm nhiệm một năm, đến phiên ai thì người ấy đi. Trong một năm ở đây, hậu điện có chuyện lớn chuyện nhỏ gì, tiền thu được bao nhiêu, đều thuộc quyền quản lý của đạo sỹ trông coi. Có điều cũng chẳng ai muốn đi, chẳng qua là vì sợ vương pháp, không đi là bị ăn gậy mà thôi.
Năm đó, đến phiên Thôi lão đạo trông coi hậu điện Vương Tam nãi nãi. Lão cả ngày ủ rũ, chán nản. Người ta ở bên ngoài, làm cái gì cũng dễ, xuống thung lũng nhặt củi, trộm gà trộm chó, không lo lắng tới cái ăn, còn trông coi hậu điện, mười ngày nửa tháng không thấy có mống nào vào thắp hương, gió Tây Bắc cũng không có mà hít, qua một năm, chẳng phải sẽ chết đói ở đây sao?
Có điều Thôi lão đạo là kẻ lắm mưu nhiều kế, hắn nghĩ tới nghĩ lui, nghĩ ra một cách. Hắn nghĩ các điện phía trước hương khói cực thịnh bởi vì đều tương truyền là có linh ứng. Thực sự là có linh ứng sao? Cũng chưa chắc, bât kể tâm nguyện của ngươi là gì, kết quả có linh ứng hay không đều có lý do cả, không ứng thì là do ngươi làm việc thiện chưa đủ.
Có thể thấy rằng linh hay không linh cũng là thứ yếu mà thôi, chủ yếu là do đầu năm nhiều người mê tín, nhờ thần dựa quỷ, tin rằng cái gì cũng có cả. Nhìn xem điện Vi Đà phía trước, quá khác với Vi Đà ở nơi khác, hai tay tượng đất trống trơn không có chày hàng ma. Không có chày hàng ma, Vi Đà còn có thể coi là Vi Đà sao? Có người nói là chày hàng ma của Vi Đà trấn trụ tại mắt biển, Vi Đà ngồi cạnh trên, phù hộ một phương này không bị lũ lụt. Như vậy là chỉ một truyền thuyết dân gian thôi cũng có thể làm cho rất nhiều thiện nam tín nữ tin là thật. Vậy nếu Vương Tam Nãi Nãi hiển linh, còn lo không có ai vào thắp hương sao?
Thôi lão đạo quyết tâm để Vương Tam Nãi Nãi hiển linh. Ngày hôm sau có một vụ ồn ào, gần đến trưa, trước cửa miếu vô cùng hỗn loạn. Có một phu xe chặn trước cửa miếu, giọng như thanh la hướng vào trong miếu hò hét. Rằng có một lão thái thái, mặt mũi hiền từ, phúc hậu, mặc áo dài, tà áo màu xanh nhạt, quần đen quấn xà cạp, chừng bảy mươi tuổi, thân hình rắn rỏi, sáng sớm đã tới kêu xe của hắn tới miếu thắp hương đầu ngày, nói xong việc sẽ đưa cho hắn năm đồng. Nhưng mà lão thái thái kia vào miếu, tới trưa vẫn chưa thấy đi ra, một nhà già trẻ trông vào tiền kéo xe của hắn, hắn phải về nhà mua bột ngô không đợi được, liền ở trước miếu gây ồn ào, khiến cho rất nhiều người vây quanh xem náo nhiệt.
Ông từ quản lý trong miếu đi ra, hỏi rõ ràng chuyện xảy ra, nói lão cũng rất ngạc nhiêu, từ sáng sớm tới bây giờ, lão đều ở trong miếu, không có lão thái thái nào như vậy đi vào thắp hương.
Phu kéo xe tiếc năm đồng to kia, mượn dây xích khóa xe lại, đi vào trong miếu tìm người. Những kẻ xem náo nhiệt bên ngoài cũng kéo vào theo. Điện trước không có, chính điện không có, điện thờ hai bên cũng không có. Tìm đến hậu điện, phu xe liếc mắt một cái liền nhận ra lão thái thái ngồi xe của hắn, tà áo dài xanh nhạt, quần đen quấn xà cạp, chính là vị ở hậu điện này. Người xem náo nhiệt theo vào toàn bộ đều choáng váng, đây không phải là người, mà là tượng gỗ của Vương Tam Nãi Nãi phía trước tượng gỗ còn bày ra mười đồng tiền.
Phu xe vừa nhìn thấy, vội quỳ rạp xuống đất, lạy như tế sao, hô là: " Vương Tam Nãi Nãi hiển linh, thương cảm người nghèo chúng ta, đã nói chỉ cần năm đồng, lại thưởng cho những mười đồng!"
Đương nhiên, toàn bộ trò này đều do Thôi lão đạo một tay sắp xếp, hắn đã thuê gã phu xe đến cửa miếu gây một trận náo loạn. Kể từ đó, một truyền mười, mười truyền trăm, truyền khắp đông tây. Thiện nam tín nữ từ bốn phương tám hướng đều đổ về thắp hương, quyên tiền hiến vật nhiều vô kể, đều kháo nhau rằng Vương Tam Nãi Nãi hiển linh, cầu được ước thấy.
Có điều người tới thắp hương cầu thần đều thắc mắc không biết Vương Tam Nãi Nãi ở hậu viện cai quản sự vụ gì? Thôi lão đạo thấy trong điện có bày một cái cung tên, hắn nhanh trí nói vói thiện nam tín nữ, Vương Tam Nãi Nãi là vị hộ tử nương nương (nhũ mẫu của con cháu nương nương), hậu điện có cung tên bắn thiên cẩu (chó trời). Trước đây có câu nói mê tín: "Hách tẩu thiên cẩu, tử tôn tiến lai" (đuổi đi thiên cẩu, con cháu tiến vào). Dân gian mê tín, nghĩ chuyện hai vợ chồng không có con cái là do thiên cẩu chặn tiểu hài tử đi đầu thai, nhất định phải dùng cung tên bắn lên trời, dọa thiên cẩu đi mới có hậu thế. Lại có truyền thuyết thiên cẩu chui trong ống khói, dọa nạt trẻ con, dễ dọa cho linh hồn đứa bé rơi rụng.  Hễ là vợ chồng nào cần cầu sinh con cái hoặc là trẻ nhỏ trong nhà gặp tai họa, liền mang tiền nhang đèn cúng cho Thôi lão đạo ra để hắn giả bộ bắn ba mũi tên lên trời.
Thôi lão đạo mượn việc Vương Tam Nãi Nãi hiển linh, bắn thiên cẩu ở hậu điện, thu được không ít tiền tài. Phải nói rằng đối với những người mê tín, đã tín thần tiên thì đương nhiên cũng tín số mệnh. Không ít người cũng tìm đến Thôi lão đạo nhờ xem số, đều nói lão xem vô cùng chính xác. Thôi lão đạo sẽ nói là: "Ngươi hỏi mệnh là gì? Nói cho ngươi biết trước cũng vô dụng, ngươi sống sẽ không thể nhìn thấy, sau này ngươi biết cũng không còn kịp nữa, mới hiểu ra rằng cái này gọi là mệnh!"
Bóc mẽ Thôi lão đạo là để nói tới chuyện lão coi bói cho Tiểu Bán Lạp. Nó vốn nghĩ rằng Thôi lão đạo là chân nhân đương thời, không quản ngàn dặm xa xôi mà chạy tới tìm Thôi lão đạo để hỏi mệnh. Thôi lão đạo nói với nó như vậy: "Ngươi mơ thấy Long vương mời ngươi ăn cá, cái này là phúc của ngươi không nhỏ, vận may này người bình thường khó mà có được. Bát tự của ngươi cũng tốt, sinh ngày mười tám tháng tám, gặp phải bát tự có Mã Kỵ, nên có số làm vương làm tướng, thậm chí là mệnh được ngồi cung điện, sao không tìm đường xuất thân trong nghiệp binh?"
Nó cũng không hiểu, ngày trước xem số đầu năm, thầy tướng số cũng nói như vậy, nhìn đĩa thức ăn nhà nó, hắn liền bảo nó phải đi nhập ngũ, nói rằng có mệnh "Cao quan đắc tọa, tuấn mã đắc kỵ" (Được làm quan lớn, được cưỡi ngựa khỏe).
Hễ đầu quân binh nghiệp, đương nhiên không thể tránh khỏi việc chết đi sống lại giữa đám đao thương, chỉ cần có thể sống sót, là có cơ hội được làm quan. Làm quan rồi nghĩ đến lời phán của thầy tướng số, sao có thể biết rằng lời phán xằng này của hắn đã khiến cho bao nhiêu người chết oan. Thầy tướng số Thôi lão đạo kia cũng đều là quen miệng nói láo, mượn danh Vương Tam Nãi Nãi hiển linh để lừa bịp, bắn thiên cẩu cầu con cái cho người thu tích tiền tài. Có điều Bạch Bán Lạp vốn là người không có chủ kiến, lỗ tai mềm yếu, người khác nói gì hắn cũng tin, hơn nữa lại cực kỳ mê tín, không may mắc lừa đều là vì thế. Hắn tin lời nói của Thôi lão đạo là đúng, cho rằng mình có mệnh ngồi cung điện, một lòng muốn phong vương bái tướng. Hắn đưa "lăng phổ" mà tổ tiên truyền lại cho Hạt Lão Nghĩa, chạy đi đầu quân, mất đi tiền đồ.
Qua thời kỳ chiến tranh, không đếm nổi bao nhiêu lần vào sinh ra tử, cuối cùng đánh tới Tháp Sơn, Tháp Sơn thực ra không hề có tháp, cũng chẳng phải núi, có điều trong tên đất có chữ "Tháp", trùng với tên địa danh. Có thể do hắn chỉ ăn có nửa con cá, tới Tháp Sơn không qua được, bị nổ mất một chân. Hắn nghĩ đây là mệnh, luôn nhắc tới việc hắn chỉ ăn có nửa con cá, đường Long Vương chỉ cho chỉ có thể đi được một nửa.
Vì hắn luôn nói như vậy nên bạn bè cũng thường gọi hắn là "Bạch Bán Lạp" (Bạch nửa đường). Năm 1966, hắn qua đời, Bạch Kỳ con của hắn đi trấn thủ biên cương ỏ vùng biên cương phía bắc, không chịu đổi nghề.
Trước đây tổ tiên Bạch gia có được một quyển cổ thư, ứng với bốn chữ "Ngộ hổ nhi khai" (Gặp hổ mà mở", truyền lại hai trăm năm, vẫn không ai biết "Hữu long tắc hưng" (có rồng thì hưng thịnh) ứng nghiệm ở đâu. Kết quả lại thành ra ứng với câu nói của Thôi lão đạo- Người ở trong thì nhìn không thấy, sau này thấy được rồi thì đã muộn, đây không phải mệnh thì là gì?
avatar
Lưu Hà
Admin

Tổng số bài gửi : 164
Points : 288
Reputation : 1
Join date : 09/09/2016

Xem lý lịch thành viên http://lachoncoc.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Re: [Tiểu Thuyết Huyền Huyễn, Trộm Mộ] Mô Kim Hiệu Úy Cửu U Tướng Quân- Thiên Hạ Bá Xướng

Bài gửi by Lưu Hà on Mon Nov 07, 2016 3:18 pm

Chương thứ hai: Hội tranh trống (Tiết 1)





Click để xem:
1
Những năm tám mươi, thị trường đồ cổ ở thành Bắc Kinh phân ra làm bốn khu vực lớn, phía đông có hai cái chợ âm phủ hay còn gọi là “chợ sớm”, một cái ở Sùng Văn môn, một cái ở Tuyên Vũ Môn, canh ba mở chợ, canh năm tan chợ, hai trăm năm nay vẫn luôn như vậy, bán hầm bà lằng các loại hàng bất chính vàng thau lẫn lộn, đồ tốt ở đó giá cũng không hề rẻ chút nào. Còn có hai nơi khác nữa, một là Xưởng Lưu Ly, ra đời và phát triển từ hai triều đại trước, còn một cái khác ra đời sau chót hiện cư ngụ tại chợ đồ cũ Phan Gia Viên. Mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng người ta vẫn truyền tai nhau rằng, nếu muốn tìm đồ cổ chất lượng thực sự thì phải đến Phan Gia Viên.

Lúc ấy mặt hàng buôn bán ở chợ đồ cũ Phan Gia Viên có thể nói là thượng vàng hạ cám, từ đồ cổ đến tang vật trộm cắp. Trong chợ, kẻ gian nhan nhản, rùa, thỏ tả pín lù loại người nào cũng có. Các sạp hàng ở vỉa hè đồ giả như mây mà đồ thật trên tay cũng không ít. Hôm nay ở chợ tôi đụng trúng một gã béo đeo bùa Mô Kim, kiếm chén cơm đổ đấu. Hồi đó ở Phan Gia Viên nhắc tới tên tôi, tốt xấu gì dù sao cũng có chút số má.

Gã béo đó là Lão Nghĩa mù, hôm đó, lão tới thăm tôi. Nếu xét về vai vế tôi phải gọi lão một tiếng "sư thúc".  Lão tìm tới, giao cho tôi một cái túi vải lớn, trong túi có dù kim cương, bát chu sa, vuốt phi hổ, roi đả thần, móng lừa đen, áo thủy hỏa, áo da chuột, giày may mắn, ấn Phát Khâu, túi càn khôn, còn cả một cuốn "lăng phổ" nữa. Tôi nghe lão Nghĩa mù nói roi đả thần, bát chu sa, dù kim cương, túi càn khôn, vuốt phi hổ, áo thủy hỏa chính là do sư phụ lão tức sư tổ của tôi truyền lại.

Đó là toàn bộ trang bị hành nghề của dân đổ đấu. Mấy thứ này người ngoại đạo có  cũng vô dụng, chỉ nằm trong tay người được trân truyền bùa Mô Kim mới có thể phát huy khả năng chân chính của nó.

Tôi vốn tưởng rằng lão Nghĩa mù niệm tình hương hỏa mà chiếu cố tôi, đâu biết rằng thực ra không phải lão định cho không. Mắt lão không tốt, lại lớn tuổi, tay chân chậm chạp, kiếm ăn không nổi nữa, muốn tôi đi kiếm đồ rồi chia cho lão một nửa. Kỳ thật cho dù lão không nói tôi cũng sẽ không để lão phải chịu thiệt. Có điều từ sau khi chui ra được từ núi quan tài, tôi đã không còn đổ đấu nữa. Theo tôi được biết, Mô Kim Phát Khâu nổi lên từ thời Hậu Hán, người đeo bùa là Hiệu úy, lưng cõng con dấu gọi là Thiên quan, đều có thuật tầm long.

Nói đến tầm long, long là gì? Long giả có thể sáng có thể tối, có thể lớn, có thể nhỏ, bay lên trời, lặn xuống vực sâu. Có người cho là chém gió, làm gì có ai nhìn thấy long? Người khác nhìn không ra nhưng Mô Kim hiệu úy có thể nhìn ra. Cái gọi là tầm long, chính là nhờ vào xem hình thế núi, xem thiên văn tìm nơi có long mạch, long huyệt. Tầm Long Quyết có nói: "Đại đạo long hành suất hữu chân, tinh phong lỗi lạc thì long thân, tứ chi phân xuất tứ thế giới, nhật nguyệt hạ chiếu vi sơn hình!" (Đi theo đường lớn sẽ gặp rồng, đỉnh tinh tú chiếu sáng là thân rồng, tứ chi phân ra bốn thế giới, soi sáng nhật nguyệt thành hình núi!) Mô Kim phù là vật hộ thân của dân đổ đấu Mô Kim Hiệu Úy, không có Mô Kim phù, không phải là Mô Kim Hiệu Úy. Mô Kim Hiệu Úy đeo phù tầm long, đào trộm mộ lấy bảo vật cứu nhân độ thế. Tổ sư gia lập ra quy củ: Mô Kim Hiệu Úy có hai điều đại cấm kỵ: Một: Không đi một mình; Hai: Không truyền cho người trong nhà. Không đeo phù thì không sao, đeo Mô Kim phù rồi, dám không tin hai đại kỵ này sao?

Điều hai đại kỵ này muốn dăn dạy đó là, không phải kiêng lúc gà gáy tắt đèn không được trộm mộ mà là tối kỵ việc hành động một mình, riêng lẻ. Bất luận bạn tài giỏi, nhiều kỹ năng thế nào đi chăng nữa, phạm vào đại kỵ, quay đầu lại đều không có kết quả tốt! Nghe nói Phát Khâu tầm long ấn bị hủy vào đời Minh, tôi không biết vật mà lão Nghĩa mù lấy được này thật hay là giả. Còn Mô Kim phù truyền lại tới đời sau chỉ còn ba miếng, tới những năm cuối triều Thanh lại rơi vào tay Trương Tam Thái Gia, một mình hắn ta đeo ba phù, cũng không dám tách Mô Kim phù ra. Trương Tam Thái Gia có bốn đồ đệ, Mô Kim phù truyền lại cho ba người đồng thời còn truyền lại một câu: "Hợp tắc sinh, phân tắc tử" (Hợp thì sống, chia thì chết). Mấy người bọn họ không tin lời này của Trương Tam Thái Gia, kết quả là toàn bộ đều bị chôn vùi trong lòng đất.

Ban đầu do hoàn cảnh bức bách tôi mới bất đắc dĩ phải đi trộm mô, tôi cũng không phải loại người lúc ngã sông thì hô cứu mạng, được cứu lên bờ mặc quần áo vào rồi lại còn khóc đòi xuống sông, chân không dài ra trên cơ thể người khác, đường đều do mình tự chọn mà đi, không nên nói hai chữ hối hận, nhưng mà cái nghề đổ đấu này, vất vả khổ cực thì không nói, nguy hiểm đến tính mạng mà cũng chỉ thu được vẻn vẹn một hai món đồ chôn theo người chết, tôi càng nghĩ càng cảm thấy không đáng. Minh khí (đồ chôn theo người chết) cho dù có đáng tiền, vẫn không đáng giá bằng mạng người. Người đời thường nói trộm mộ đoạt bảo có thể phát tài, đó là trong truyền thuyết cổ xưa thôi, thời đại bây giờ, tên lửa cũng phóng lên vũ trụ rồi, vài ba thủ đoạn trộm gà, trộm chó này cơ bản đã lỗi thời lâu rồi?

Nói khó nghe hơn một chút thì trộm mộ tổn hại âm đức, không cần biết là anh kiếm lời bỏ vào túi riêng hay là giúp đỡ người nghèo khổ, nói thế nào cũng vẫn là lấy đồ vật của người chết bán lấy tiền. Đồ người chết là đồ không nên lấy, kỳ trân dị bảo trong mộ cổ một khi lại thấy ánh mặt trời, tất nhiên sẽ dẫn tới chuyện tranh giành, cướp đoạt, tất có người mất mạng, nguyên nhân cũng đều đổ lên đầu Mô Kim Hiệu Úy. Bởi thế mới nói, chén cơn đổ đấu bới mộ này, không thể ăn cả đời được, tôi đã quyết tâm phải cao chạy xa bay.

Lão Nghĩa mù không đồng ý: "Hổ không rời núi, rồng không rời vực, cao chạy xa bay, nói dễ vậy sao!"

Lão tin cũng được mà không tin cũng chẳng sao, tôi đã quyết tâm là phải ra đi, tôi mang toàn bộ vốn liếng trong tay đưa hết cho lão Nghĩa mù, lão chê không đủ, tôi cũng không có thêm nữa.

Đêm hôm ấy, tôi hẹn Thượng Bàn Tử (Thượng Béo) cùng Đại Kim Nha (Răng Vàng Lớn), đến quán cơm Đông Tứ. Nửa đêm không còn đồ ăn, chỉ còn bát bánh canh. Ba người ngồi xuống, tôi mang những việc đã trải qua nói với bọn họ một lượt.

Đại Kim Nha nói: "Hồ gia, buôn bán thứ đồ này không sợ thua lỗ, anh nên thuận theo chớ có coi thường số mệnh, mệnh của anh đã định là phải ăn chén cơm đổ đấu này rồi, nếu không những thứ này cũng sẽ không rơi vào tay anh!"

Tôi nói: "Tôi đổi lấy roi Đả thần, bát Chu sa, ô Kim Cương, Áo Thủy hỏa, cũng không phải là vì muốn hành nghề đổ đấu, chỉ vì không thể bỏ vật mà tổ sư truyền lại mà thôi. Hai người các anh không cần phải lo lắng, hiện giờ, tuy rằng tôi một đồng xu cũng không có, nhưng tôi đã nghĩ thông rồi. Sau này ra ngoài, ba anh em ta cũng không thể không ăn không uống, nghề mới thì làm không nổi, vả lại nghĩ kỹ lại thì sao phải đổi nghề chứ, trăm hay không bằng tay quen mà. Chúng ta vẫn cứ làm con buôn thì tốt hơn. Nghe đồn Quỷ thành có một kỹ nghệ tuyệt đỉnh, làm đầu phật giả cháo đầu thật, người bình thường căn bản không thể phân biệt. Anh mà có được một cái đầu Phật khiến cho hai ba mươi gã nhà nghề chong mắt mười ngày, nửa tháng cũng không dám chắc là thật hay giả, không sợ không bán được hàng, bán một cái cũng đủ ăn nửa năm. Chỉ có điều kỹ nghệ đó cũng không dễ có được, tôi còn phải nghiên cứu nữa, nhưng dù sao cũng tốt hơn đến nơi rừng sâu núi thẳm móc mộ cổ có phải không?”

Bàn Tử nói: "Bán một cái đủ ăn nửa năm, vậy còn trần chừ gì nữa? Hai hoành dựng lên đánh một chữ - Kiền!*

(Chữ Kiền干 hay là can nghĩa trong câu này là theo, do hai thanh ngang có một thanh dọc ở giữa dựng lên tạo thành nên mới có câu: hai hoành dựng lên đánh một chữ Kiền)

Đại Kim Nha nóng nảy: "Ôi trời hai vị đại gia, các người đừng trách Đại Kim Nha ta nói chuyện không lọt tai nha, bán một cái mà đủ ăn nửa năm, vậy cũng còn phải xem là ăn cái gì nữa kìa, ăn bánh canh nửa năm cũng còn chưa chắc, thật đó! Hồ gia anh đừng có chê tôi nói năng dông dài, anh nói xem anh cũng già đầu rồi, vì sao vẫn phải tối ngày lăn lộn ở cái chỗ không ra gì, thực ra chỉ cần qua lại với mấy người có lai lịch thôi thì cuộc sống của anh cũng đã khác lắm rồi. Ngược lại anh cái gì cũng không muốn, chỉ chăm chăm buôn bán “lược giao hàng” (hàng giả), không phải là muốn làm muối mặt tổ tông sao? Không để cho anh gặp vố thua lỗ lớn, đồ đạc trong nhà đội nón đi sạch, thì anh còn chưa trắng mắt ra! Tôi cũng không muốn múa lưỡi với anh nữa, anh ngồi đây mà tự ngẫm lại đi, đừng khiến cho toàn bộ nước miếng của Đại Kim Nha tôi phải lãng phí trôi theo dòng nước!"

Đại Kim Nha lại nóng nảy nói: “Béo ca ca, ngươi đừng có chỉ biết quan tâm đến bánh canh như thế, nói vài câu đi!

Bàn Tử nói: “Tôi theo Hồ huynh, như anh nói đó tương lai sợ rằng cả bát bánh canh cũng không được húp nhiều nữa, tôi còn không tranh thủ húp hai bát được sao?

Đại Kim nha nói: "Lại còn hai bát nữa? Đầu óc giản đơn, đổi lại là ta, nuốt cũng chẳng trôi!"

Bàn tử nói: "Bánh canh còn húp không được? Anh dựa vào cái gì mà đòi làm việc lớn? Dựa vào tổ tiên hả?”

Đại kim nha thấy Bàn tử không để ý tới lời của hắn, xì mũi chán nản một cái, xoay đầu lại nì nèo tiếp với tôi.

Tôi nói: "Anh phun ra cả chậu nước miếng, rốt cuộc là muốn nói gì? Không phải là muốn tôi đi đổ đấu đó chứ?”

Đại Kim Nha nói: "Không phải, anh đường đường là Mô Kim Hiệu Úy, vậy mà lại buôn bán “lược giao hàng”, còn mặt mũi đi lại bên ngoài sao? Anh không thấy có lỗi với tổ sư gia sao? Trên tay không có đồ thật mà có thể là Mô Kim Hiệu Úy sao? Chỉ có Mô Kim Phù thôi chưa đủ, muốn kiếm nhiều tiền vẫn là phải có hàng thật, không cần tham nhiều, chỉ cần có một hai món đồ thật, từ nay về sau tuyệt đối có thể phát tài!"

Tôi cùng Bàn Tử đều biết Đại Kim Nha không giỏi chửi bậy, hắn ta đầu tóc suốt ngày chải keo bóng nhẫy, giọng thì lơ lớ Bắc Kinh pha tiếng Mỹ, ít chửi bậy nhưng giọng điệu thì đầy vẻ lên lớp, rất biết ra oai, nhìn qua thì là “nhân mô cẩu dạng” * có điều người ngoài chỉ cần mạo phạm tới hắn một chút thôi, hắn dám bán con của họ lấy tiền, để họ khóc tới mù mắt chứ đừng đùa! Loại thương nhân như hắn, cần bạn thì nói trước mặt, không cần bạn sẽ nói xấu sau lưng, bình thường kiếm cơm bằng cái miệng. Có điều những lời này của hắn cũng không phải hoàn toàn vô lý, "Lược giao hàng" là tiếng lóng trong nghề, nói cách khác, người mua bán thứ đồ này chẳng khác nào để cho người ta ném qua ném lại, chẳng may mua bán thất bại ngã sứt đầu mẻ trán như chơi. Hơn nữa giới buôn bán “lược giao hàng” ở thành phố thường phải có nhiều mánh lới đối phó với người ngoài, muốn phát tài ở nghề này, tuyệt không hề đơn giản.

(* thành ngữ có ý châm chọc chỉ những người hình dung, cử chỉ, không giống người như dáng vẻ giả bộ nghiêm trang, lịch sự thái quá …)

Buôn bán đồ cổ không giống với những loại hình kinh doanh khác, có đổi vật ra tiền được hay không, hoàn toàn dựa vào nhãn lực và kiến thức, sau này phát giác ra bị mắc lừa, cũng đành ôm hận nhận phần thiệt thòi mà thôi. Xét trên đạo lý này mà nói, trước mắt thật giả bất phân, sau này dù thật dù giả biết được rồi cũng chỉ là  "cánh tay gãy trong ống tay áo", ngã ngựa rồi dậy không nổi, phải tranh thủ lúc còn sớm kiếm bãi nước trong tránh lội nước đục. Ở Phan Gia Viên "lược giao hàng" có thể dễ bán, tôi lại đeo Mô Kim phù, đồ trên tay tôi ai dám nói không phải là đồ thật? Nhưng ra ngoài rồi, không có đồ thật thì đương nhiên là không ổn. Muốn bán được "Lược giao hàng", ít nhất cũng cần có một hai món đồ thật để ngụy trang, nếu không thì khó mà có chỗ đứng.

Đại Kim Nha nói: "Hai người các anh nghe tôi một lần, không phải bảo chúng ta đi đổ đấu, mà là ra ngoài một chuyến, thu mua mấy món đồ mới được đào lên rồi nói là Mô Kim Hiệu Úy chúng ta móc được, Đại Kim Nha tôi nhận chi tiền vốn, cho dù bất kể kiếm được bao nhiêu tiền, anh đây ba phần ăn một, thế nào? Hồ gia, Bàn gia hai người các anh đều là người thẳng thắn, nói một câu xem, có được hay không, một lời quyết định đi!"

Tôi với Bàn Tử vốn là những kẻ không thích ngồi mát ăn bát vàng, ưa lao đầu vào mấy nơi mạo hiểm, nghe con đường Đại Kim Nha vẽ ra như vậy thấy cũng có lý, không thể không động tâm, vấn đề là đồ thật ngày nay không dễ tìm, không móc ở mộ thì lấy đâu ra?

Vừa hay ở Quan Trung (Lưu vực Sông Vị ở tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc) có một gã là Mã Lão Oa Tử, không lâu trước đây nhờ người bắn tin, tuyên bố rằng mới lượm được bảo vật trên núi. Chúng tôi ngay cả Đại Kim Nha cũng chưa từng gặp Mã lão Oa Tử, không biết tin này chính xác được mấy phần.

Đại Kim Nha nói nếu thực sự muốn thu mua đồ thật, không phải là không có khả năng. Quan Trung- Thiểm Tây xưa kia vốn là vùng đất Đế vương, Nhà Chu  hưng thịnh như rồng, đất Tần vững như hổ, từ thời Lưỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán) đến nay đều vô cùng coi trọng Quan Trung. Ở đó cổ mộ nhiều, dân trộm mộ cũng nhiều, có điều cổ mộ cho dù nhiều, trộm mãi cũng cạn. Nhất là đối với những vùng  quê nghèo hoang vắng, mười năm thì tới chín năm không cấy hái gì được.

Từ hai triều Tần, Hán tới nay, trộm mộ đã trở thành phong trào. Đạo tặc đào nhiều năm như vậy, không có ngôi mộ cổ nào mà chưa bị động vào. Có đến trên trăm cái mộ sắp bị rỗng như cái rổ rồi, cũng chẳng còn đồ gì có giá trị để trộm nữa. Dân chúng địa phương ăn chén cơm này quả thật cũng vô cùng vất vả, buông bỏ thì không được, đói ăn vụng, túng làm liều, quyết tâm chuyển sang làm “lược giao hàng”. Tay nghề chế tác “lược giao hàng” nghe nói cũng truyền qua nhiều đời, làm đồ giả tráo đồ thật. Người mua chỉ cần sơ sót một chút, chẳng những không thu được chút tiền lời nào,  mà còn có thể lỗ nặng vì mắc lừa.

Cũng may Đại Kim Nha có cái mũi rất thính, hắn không cần nhìn mà chỉ dùng lỗ mũi cũng ngửi ra được thật giả, hơn nữa hắn có mối khách hàng lớn, cổ nhân thường nói "Hóa đáo địa đầu nhi tử"*, có người mua mới dám kiếm hàng. Ba người thảo luận hồi lâu, quyết đinh đi Quan Trung một chuyến, tìm một hai món đồ thật làm màu để từ nay về sau đi lừa đảo.

*(Hàng xuống đất thủ lĩnh chết- ngạn ngữ Trung Quốc ý nói nếu người bán không chuẩn bị thương lượng với khách hàng trước, sản xuất số lượng lớn, đến lúc chuyển tới bị ép giá hoặc không lấy nữa người bán sẽ chịu thua thiệt)


Theo hoàng lịch, bốn ngày sau là ngày tốt, thích hợp xuất hành. Hôm đó, tôi cùng Bàn Tử, Đại Kim Nha gấp rút tới Quan Trung. Vận trang phục mang theo đạo cụ đổ đấu bất li thân, trước giờ chúng tôi ra ngoài làm ăn buôn bán cũng đều dựa vào mấy thứ này để dọa người.

Ba người tới Tây An trước, không hổ danh là đất cố đô, tám trăm dặm đất Tần bụi vàng tung bay, danh lam thắng cảnh cổ xưa nhiều vô số. Nói tới ẩm thực, sủi cảo Đức Phát Trường, phao mô hay thịnh tường (các món đồ ăn vặt ở TQ) có thể nói là cái gì cần có cũng đều có đủ. Có điều chạy qua chạy lại ở đây lâu cũng không được, còn phải về vùng nông thôn hẻo lánh nữa. Chúng tôi đi dạo ở Tây An nửa ngày, rồi lại ngồi xe đường dài tới Hàm Dương, qua Kỳ Sơn, lại đi về hướng tây, đều là núi non trùng trùng điệp điệp. Thế núi hoang dã oai phong, hùng vĩ như rồng xanh, từng ngọn từng ngọn như lầu rồng bảo điện.


Được sửa bởi Lưu Hà ngày Fri Nov 11, 2016 7:50 am; sửa lần 5.
avatar
Lưu Hà
Admin

Tổng số bài gửi : 164
Points : 288
Reputation : 1
Join date : 09/09/2016

Xem lý lịch thành viên http://lachoncoc.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Re: [Tiểu Thuyết Huyền Huyễn, Trộm Mộ] Mô Kim Hiệu Úy Cửu U Tướng Quân- Thiên Hạ Bá Xướng

Bài gửi by Lưu Hà on Wed Nov 09, 2016 12:06 am

Chương thứ hai: Hội tranh trống (Tiết 2 - 4)


Click để xem:
2

Lại nói mèo có đạo của mèo, chó có đạo của chó, chớ lẫn lộn sang nhau. Muốn thu mua đồ dưới đất phải tìm chỗ có hang động. Theo tin tức chúng tôi nhận được, tòa núi lớn như lầu rồng bảo điện đó có một khe núi lớn gọi là "Cửa điện", lác đác có mấy chục hộ dân sinh sống. Mặc dù dân cư ở đây thưa thớt nhưng cổ mộ lại nhiều vô kể, minh khí phát tán ra ngoài dân gian không ít, đầu giường đất (giường lò) của người dân ở đây toàn là bảo vật.

Sinh sống ở "Cửa điện" có một gã là Mã Lão Oa Tử, từ nhỏ đã chui hầm móc cổ vật, thường xuyên qua lại với lái buôn đồ cổ. Ba người chúng tôi lên đường đi tìm lão, đi tới lúc sắc trời sắp tối thì gặp được. Lão khoảng hơn sáu mươi tuổi, mặt tím hơn gan dê, cằm lại có một nhúm râu dê. Có điều lạ là mặc dù lão chăn dê chứ không có chăn ngựa, nhưng ở đây từ xưa người ta vẫn gọi lão là Mã Oa Tử (trẻ chăn ngựa), chẳng mấy người gọi là Phóng Dương Oa Tử (trẻ chăn dê), lớn lên cũng không đổi cách gọi, cùng lắm là thêm vào một chữ "Lão".  Mã Lão Oa Tử thấy người từ Bắc Kinh tới, liền ra đón từ xa, dẫn đường vào nhà, nấu mỳ sợi cho chúng tôi ăn. Hắn tự xưng là kiếm sống nhờ vẽ tranh tết, bận bịu làm việc cả một năm, đầu năm mở hàng được mười mấy hai mươi ngày. Chi tiêu, ăn uống cả một năm phần lớn là tiền kiếm được từ vẽ tranh. Mã Lão Oa Tử vẽ tranh môn thần (tranh hộ pháp trấn yểm để trừ tà trên cánh cửa) rất đẹp, một phòng toàn môn thần, đỏ thẫm lại xanh đậm, người đi vào không có chỗ đặt chân.

Ngồi một lát, Mã Lão Oa Tử mang mỳ lên, mỗi người múc một tô. Bàn tử ăn như hổ đói, húp hai ba cái đã hết bát mì, lau miệng, quay đầu nói với Đại Kim Nha: "Từ nơi xa xôi chạy đến cái khe núi rách nát này, chân cẳng mệt mỏi rã rời, xoắn lại như củ tỏi lấy nhíp cậy cũng không ra, đương nhiên không phải là tới chỉ để ăn bát mỳ. Lúc bình thường không phải anh mồm năm miệng mười sao? Vừa mới bưng chén cơm lên mà sao đã thành như hồ lô mất miệng rồi? Anh xem trời đã nhá nhem tối rồi, mau hỏi Mã Lão Oa Tử xem hắn có đồ tốt gì hay không?"

Sau khi vào phòng, tôi đã để ý xung quanh, Mã Lão Oa Tử quả thực rất nghèo, trong nhà không có đồ thừa, tất cả đều là tranh môn thần, không đợi Đại Kim Nha mở miệng, tôi liền hỏi Mã Lão Oa Tử trước: "Tôi nhìn thấy lão vẽ môn thần, không chỉ có Úy Trì Cung và Tần Thúc Bảo, lại còn có thêm cả tranh lừa! Trên cửa mà lại dán hai cái đầu lừa đen, đó là là phong tục gì?"


Theo như truyền thuyết mê tín thời xưa, cương thi tấn công người sống, nghe tiếng lừa đen hí mới buông ra, cho nên dân đổ đấu phải mang "Móng lừa đen". Tôi đã từng nghe qua chuyện ba ba cắn người chứ chưa từng nghe lừa không hí thì không nhả miệng. Không biết có phải truyền thuyết cương thi sợ lừa hí có xuất xứ từ nơi này không. Chỉ có điều trong truyền thuyết dân gian, tướng quân lừa có thể hàng yêu trừ quái, trước đây thường xuyên xảy ra hạn hán, nơi có hạn hán bệnh tật thường có miếu thờ tướng quân lừa, có điều đều là miếu nhỏ, hương khói cũng không vượng. Đông bắc, tây bắc vốn là hai vùng mê tín nhiều, cũng chưa từng thấy có người dùng lừa làm môn thần.

Tranh Tết thường thấy ở Quan Trung là tranh môn thần, táo quân, mặt hoa*, mặt tịnh*, hay là tranh Lưu Hải câu cóc vàng*, Vương Tiểu Nhi ôm cá lớn, cũng có thể là ba ngôi sao Phúc Lộc Thọ, còn cả Thương thần và Ngưu Mã Vương. Ngưu Mã Vương tương truyền là thần phù hộ cho mùa màng bội thu vẽ vào tranh tết thì còn có lý. Có điều cả một phòng tranh tết của Mã Lão Oa Tử toàn là lừa đen thì thật không thể hiểu nổi, trên cửa vẽ hai cái đầu lừa đen, vậy thì là cầu phù hộ cái gì? Phù hộ cho cả nhà ngu như lừa sao?

(* -Mặt hoa, mặt tịnh: diễn viên trong hý kịch trong đó mặt hoa hay là mặt vẽ thường  đóng vai có tính cách mạnh mẽ hoặc thô bạo, mặt trắng thường đóng chính kịch không vẽ mặt
- Lưu Hải câu cóc vàng: hình vẽ Lưu Hải hai tay cầm một xâu tiền, dưới chân có cóc ba chân gọi là Kim Thiềm, cóc này là cóc thần)

Mã Lão Oa tử lớn lên ở một khe núi nghèo xác, những thứ truyền thuyết dân gian mê tín mà hắn nói là của địa phương có lẽ toàn từ trong bụng hắn chui ra, hắn nói đây là phong tục của “cửa điện”, vẽ lừa đen chắn ở cửa để cho người chết không đi vào nhà. Đất ở Quang Trung vừa cứng vừa dầy, người chết chôn xuống trăm năm thành hung, ngàn năm biến thành sát, toàn thân mọc đầy lông dài, ban ngày núp trong huyệt mộ, nửa đêm ra ngoài ăn thịt người, cái này gọi là "Phệ mao sát" (hung thần khoác lông)!

Bàn Tử nói: "Mã Lão Oa Tử ông chớ thấy bọn ta mới tới mà nói bừa, tôi chẳng tin đâu, người chết ở “cửa điện” rồi không phải là cả đời ăn hương ăn hoa, được chủ đất cung phụng bánh bột ngô, bột mì đó sao? Sao còn sinh ra tâm địa độc ác như vậy được?

Đại Kim Nha xem chừng Mã Lão Oa Tử vẫn còn muốn nói tiếp liền nháy mắt với bọn tôi.

Tôi gật đầu hiểu ý lại đưa sang Mã Lão Oa Tử điếu thuốc bảo hắn nói tiếp.

Mã Lão Oa tử nói hắn vẽ lừa đen chắn ở cửa, màu vẽ thì dùng máu gà trộn với mực đỏ vẽ lên, có thể trừ tà, trong vòng vài trăm dặm quanh đây có thể nói độc nhất vô nhị không tranh của qua qua nổi.

Thổ ngữ địa phương thường gọi tranh đẹp là tranh trống. Tranh giống như đồ, tiếng trống bừng lên, sống động, linh hoạt, vút lên lại hạ xuống, vô cùng phấn khích. Có điều tay nghề của hắn bây giờ vẫn chưa đuổi kịp ông tổ nhà hắn, ông tổ nhà hắn vẽ tranh trống vô cùng sống động, có thể nói là kỳ tài ảo diệu, gần xa không ai không biết. Ông tổ hắn vẽ một con lừa, treo ở trong nhà, nửa đêm trăng sáng sao thưa con lừa trong tranh sẽ đi xuống. Có người nhìn lén ở ngoài nhà, chỉ thấy con lừa này chân đỏ, tai như đóa hoa, mõm trắng, móng trắng, viền mắt cũng trắng, toàn thân đen lay láy, còn đẹp hơn cả khoác áo gấm, trên bức tranh tết chỉ còn là tờ giấy trắng! Tổ truyền nhà hắn mỗi năm mở hội tranh trống một lần, qua mấy trăm năm, cho tới bây giờ bức tranh vẫn còn, chính là vật chí bảo gia truyền nhà Mã Lão Oa Tử! Dứt lời, hắn đứng dậy vào trong phòng lục tung đồ đạc tìm bức vẽ tổ truyền nhà hắn.

Hai mắt Đại Kim Nha sáng lên, sáp lại gần tôi nói: "Hồ gia, anh có nghe thấy không, Mã Lão Oa Tử này có bức tranh cực quý!"

Tôi nói: "Anh tin lời hắn nói nhảm sao? “Kịch đánh người chẳng phải kịch hay” *, hắn có cái tranh trống cổ quý giá gì đó liệu còn chịu ở cái nhà ngói rách nát này sao?

(* Thành ngữ: Kịch đánh người - Cổ đại có tiết mục biểu diễn đánh người, ý câu này là chê trách màn kịch vụng về chẳng có gì hay ho)

Bàn tử nói: "Ha Ha! Cái thằng con giời này, thì ra hắn định làm quảng cáo  hả!"

3
Đại Kim Nha vào phòng trong gọi Mã Lão Oa Tử nói hắn đừng tìm nữa, tìm được chúng tôi cũng không cần.

Mã Lão Oa tử nói: "Bức tranh quý của tôi không phải gặp ai cũng mang ra khoe, tôi thấy ba người các vị không tầm thường mới định cho các vị xem thử một chút, các ông không định mở rộng tầm mắt sao? Ra khỏi thôn này rồi muốn xem thứ này cũng không có!"

Hắn còn nói ở “cửa điện” thứ gì cũng là đồ tốt chỉ tội nghèo, bình thường hắn chăn dê, tranh thủ chợ phiên đi bán tranh tết, cũng không kiếm được bao nhiêu, hắn vốn lại là kẻ tham ăn lười làm, nợ nần chồng chất trả không nổi, bức bách quá không biết làm sao mới nảy sinh ra ý định bán đi bức tranh quý tổ truyền.

Đại Kim Nha nói: "Nghèo cũng được cái là nhàn hạ, lão Hoàng đế áo vàng, đai bạc, cai trị bốn bể, hắn không phải dậy sớm thức khuya thượng triều phê duyệt tấu sớ sao? Không cẩn thận còn bị người ta cướp ngôi vua, cũng không bằng lão ở trên núi chăn dê tự do, tự tại."

Mã Lão Oa Tử tiện miệng nói: "Tôi chỉ cần một ngày đủ hai bữa cơm, có đổi cho làm hoàng đế tôi cũng không đổi"

Bàn tử nói: Thật chẳng hiểu nổi cái suy nghĩ của lão, đòi mang hai chén cơm tính đổi ngôi vị Hoàng đế? Ngược lại lão nghĩ rằng hoàng thượng muốn đổi với lão sao? Tôi nghĩ Mã Lão Oa Tử ông cũng là kẻ chăn dê biết điều, ai dè toàn nói lời bây bạ? Có phải ăn nhiều bột ngô quá, ăn no dửng mỡ rồi lại muốn bị ném sang Cao Ly không, tự dưng lại đẻ ra một bụng toàn “Yêu con bướm” *? Có khi phải tìm một bát nước lạnh dội cho lão sáng suốt ra, dội cho hết hồ đồ đi!"

(*Yêu con bướm: Thổ ngữ của người phương bắc Trung quốc Ý: hoàn toàn bịa đặt, kiếm chuyện, câu này đa số là nghĩa xấu, cũng có thể hiểu là đùa bỡn, trêu hoa ghẹo nguyệt, có ý đồ xấu.)


Ta thấy Mã Lão Oa Tử không phải là cây đèn thiếu dầu, có thể là thường ngày những người tới chỗ hắn kiếm đồ cũng hay tán chuyện phiếm, hắn nghĩ chúng tôi là con cóc dễ bắt, tôi nghĩ cũng không nên vòng vo với hắn nữa. Tôi rỉ tai Đại Kim Nha vài câu, bảo hắn nói với Mã Lão Oa Tử là chúng ta tới kiếm đồ, có vật gì moi móc được từ đất hoặc bảo vật nhặt được trên núi thì lấy ra cho chúng ta xem qua một chút, muốn làm Hoàng thượng thì đừng mơ, nhưng chỉ cần có đồ tốt trên tay, tám trăm hay cả nghìn đồng chúng ta cũng có thể trả cho lão, từ nay về sau một ngày ba bữa không cần phải lo lắng.

Mã Lão Oa Tử cũng là kẻ từng chui ra từ đất, hắn đương nhiên rất gian khản (giảo hoạt cứng cỏi), người Bắc Kinh thường nói là kẻ gian khản nhưng ở vùng Quan Trung từ này dùng như hắc thoại (tiếng long của dân đạo tặc). Dân trong nghề hỏi thăm nhau vài câu cũng thường dùng tiếng lóng để tán gẫu. Có điều tôi nghe được ẩn ý trong lời nói của Mã Lão Oa Tử chứng tỏ hắn chưa tin tưởng chúng tôi lắm. Tôi nhặt một viên gạch, dùng Mô Kim phù rạch một cái, viên gạch liền đứt làm hai nửa. Mã Lão Oa Tử mặt biến sắc, vội nói: "Thất kính, thất kính!"

Hắn mang rượu gạo tới, chuẩn bị mâm bát, uống tới nửa đêm. Tôi nói: "Lão gọi chúng tôi tới cái vùng đất hoang nghèo xơ nghèo xác này chỉ để giao dịch mấy cái tranh đầu lừa vô giá trị kia thôi hả?."

Mã Lão Oa Tử nói:"Ba người các anh tới đúng chỗ rồi đấy, đừng xem thường cửa điện này, mặc dù bây giờ rất nghèo nhưng thời xưa không như vậy đâu! Minh triều đất này được gọi là đất Tần, có Tần vương cai quản, một chữ Vương đích thực, Tịnh Kiên Vương được tề vai với Hoàng Thượng, lên điện thấy mặt vua không cần quỳ, ngồi ngang hàng cùng hoàng thượng. Cửa điện có một ngọn núi gọi là Ngọc Hoàng điện, dưới núi có long mạch, nối thẳng tới long cung, người được táng trong núi Ngọc Hoàng không phải ai khác chính là một vị Tần vương. Thông thường phải gọi là mộ táng vương, quy mô của mộ Tần vương kia cũng ngang ngửa với lăng tẩm của Hoàng đế rồi!"

Bàn Tử nói: "Lão đừng dọa bọn này, cửa điện toàn là núi hoang, tới cỏ ngải còn xơ xác, mà dám nói từng chôn Tần vương sao?"

Mã Lão Oa Tử nói: "Đây là chuyện mà bọn trẻ chăn dê đời này qua đời khác truyền lại, trên núi có minh lầu bảo đỉnh, bốn phía có thành quây, bên dưới là ba cánh cửa cung điện, huyền cung quy mô khủng khiếp, kỳ trân dị bảo táng theo vô số!"

Tôi nói: "Trộm mộ ở Quan Trung này như nấm, huyền cung táng Tần vương chẳng lẽ không có ai động tới sao?"

Mã Lão Oa Tử nói: "Anh hãy nghe tôi giải thích, Hoàng đế Sùng Trinh của Minh triều khi còn tại vị, Hoàng Hà ngập lụt, mất mùa liên miên, dân chúng không có cơm ăn, từ xưa tới nay, dân nghèo thì sinh đạo tặc, trộm cướp tụ tập thì sinh loạn, chờ thời cơ mà vác gậy tre làm phản. Ở đây có một gã gọi gã "Lão Cao Lương Cán Tử" (thân cây cao lương) sinh ra là một hảo hán đội trời đạp đất, bị quan phủ bức ép tới đường cùng, bất đắc dĩ đành phải chỉ huy bách tính đói cơm nổi dậy giết quan lại tạo phản. Gã có cái dũng vạn người không địch, trên lưng xăm một cái bảo bình, trong bình cắm một cây bảo kiếm, có thể chém bay đầu người! Chỉ cần nói qua tên họ kẻ thù, chỗ ở, đọc xong lời chú, kiếm này liền hóa thành con rồng xanh bay đi chém đầu kẻ thù kia rồi ngậm đầu trong miệng mang tới! Gã dẫn theo hai trăm ngàn nghĩa quân, đánh vỡ châu phủ, mở kho phát lương, người nghèo khổ không ai không cảm phục Lão Cao Lương Cán Tử đại nhân hắn!"

Đại Kim Nha nói: "Chúng ta đừng luyên thuyên qua chuyện khác có được hay không vậy, đang nói tới chỗ trọng yếu, tại sao lại nói sang chuyện làm phản?

Mã Lão Oa Tử nói:" Lão Cao Lương Cán Tử dẫn quân tiến vào phủ châu, phá vỡ sườn núi phía nam, quật mộ tổ tiên Hoàng đế lên, khiến cho Hoàng đế Sùng Trinh  tức ói máu. Có thể do đại Minh triều mệnh chưa cạn, Lão Cao Lương Cán Tử không có số ngồi đại điện, một lần cuồng phong nổi lên, cát bay đá nhảy, hai mắt do bị tổn thương quá lớn gần như bị mù, đưa tay ra không nhìn thấy bàn tay, khiến cho Cao Lương Cán Tử nếm mùi thất bại ở Quan Trung. Gã thu thập tàn binh bại tướng lui đến của điện, ra lệnh cho mấy chục ngàn nghĩa quân đào khoét cung điện bí ẩn, móc ra một Tần vương Đại bánh chưng*!"

(*Đại bánh chưng: là chỉ thi thể người trên đó có đồ chôn theo)

4
Nghĩa quân vơ vét sạch trân bảo chôn theo, lại phỏng hỏa đốt núi, lửa cháy chừng ba ngày, sau không có một ngọn cỏ nào lên nổi, khắp nơi đều là gạch bể ngói nát. Lão Cao Lương Cán Tử lấy được bảo vật, vô cùng thỏa mãn cho là có thể đợi thời cơ lại dấy binh khởi nghĩa, không thể ngờ những thủ lĩnh dưới trướng hắn vì chia của không đều, giết hại lẫn nhau để tranh của. Quan quân nhân cơ hội này hợp vây bốn phía, hai bên ở khe núi huyết chiến một trận tới đen đục cả dòng nước, Lão Cao Lương Cán Tử trúng tên bị bắt, giải vào kinh thành, bị xử lăng trì vô cùng thê thảm.

Tôi nói: "Cũng khó trách, gã kia chỉ biết tạo phản chứ chưa từng ăn qua chén cơm đổ đấu, hắn không hiểu đường đi nước bước, trộm mộ lấy bảo vật không thể giống với mở kho phát lương, thấy kỳ trân dị bảo táng theo, cha con anh em cũng còn trở mặt với nhau, huống chi tay chân của hắn toàn là người nghèo không còn đường sống mới giết quan tạo phản, có được kỳ trân dị bảo rồi ai còn muốn chém giết quan quân làm gì?"

Đại Kim Nha giục Mã Lão Oa Tử mau nói tiếp: "Huyền cung của Tần vương thực sự đã trống rỗng sao? Không thể đào ra bảo vật nữa sao?"

Mã Lão Oa Tử nói: "Đâu chỉ huyền cung không còn bảo vật, ngay cả minh lầu, bảo thành trên núi cũng bị đốt sạch. Tòa điện lớn chính giữa kia từng được dựng bởi một trăm sáu mươi cây kim ti nam mộc (là loại gỗ đặc biệt quý hiếm của Trung Quốc), quân phản loạn đánh tới đó, thiêu rụi quá nửa. Về sau, những cột không cháy hết cũng bị người ta mang đi bán lấy tiền, thực sự là chẳng còn lại gì."

Hồi đó kim ti nam mộc chỉ có rải rác ở nơi rừng già núi thẳm, những nơi sườn núi, hang vực hiểm trở hiếm có dấu vết con người, chủ yếu là nơi qua lại của mãnh thú và rắn độc, đặc biệt là những nơi đó có rất nhiều chướng khí ngăn trở, đốn hạ được vô cùng gian nan. Mang ra được một cây thì không biết có bao nhiêu người ngã chết. Chờ đến khi vượt sông được rồi, lại phải vận chuyển bằng đường thủy lên phía bắc, lại không biết bao nhiêu người làm mồi cho hà bá. Một lần vận chuyển kim ti nam mộc, tiền chuyên chở cũng phải tới ba ngàn năm trăm lượng bạc. Kim ti nam mộc nước lửa bất xâm, chôn hơn ngàn năm cũng không mục nát. Quân phản loạn nổi lửa đốt minh lầu bảo điện, kim ti nam mộc trên điện đốt không cháy hết. Sau này ngay cả xà nhà cột gỗ cũng bị người ta trộm hết.

Lúc đó loạn như vậy, đạo tặc nổi lên tứ phương, những kẻ xông vào cướp phá bảo vật không ai khác chính là dân nghèo làm thổ phỉ, một bữa no cũng chưa từng có, trong mắt chỉ có vàng bạc, nhìn thấy trân bảo rơi vào tay họ cũng không ai dám làm gì. Anh nhìn cửa điện vô cùng đói kém? Hạn hán triền miên, ba thước đất khô nẻ. Mặc dù cổ mộ rất nhiều, đào ra không ít trân bảo của các triều đại, nhưng cho tới nay chưa từng có ai ở đây phát tài. Có lẽ do đời trước không biết kiếm tiền, đến đời sau vẫn không có cơm ăn như thường. Như năm cuối triều Minh hồi đó, đồ trộm ra từ trong huyền cung của Tần vương, không ai dám mang bán ra bên ngoài, dân nghèo không thể có đồ tốt như vậy, mang ra ngoài chắc chắn bị bắt. Người nghèo lại không biết hàng tốt xấu, trân bảo rơi vào tay, bọn họ chỉ đành đập vỡ bán đồng nát đổi mấy đồng tiền lẻ. Ăn mày chỉ nghĩ tới bao gạo, bánh bột ngô, đồ tốt rơi vào tay những người này cũng vô dụng. Vì vậy mới nói vì sao mà bảo vật vô giá trong mộ từ lúc xuất thổ tới nay qua tay bao người, mãi sau này không ai rõ tung tích, mười cái thì có tám chín cái như vậy.

Đại Kim Nha nói: "Huyền cung của Tần vương lớn như vậy, trân bảo chôn theo nhất định không ít, có đồ vật gì khác thường không?"

Mã Lão Oa Tử nói: "Đương nhiên là có bảo vật, cho nên trước đây tương truyền rằng lúc cung điện bí ẩn của Tần vương mở ra, hàng ngàn hàng vạn quân xông vào, giơ cao đao thương, bó đuốc, tràn vào cung như nước thủy triều. Truyền thuyết nói rằng Tần vương lòng tham không đáy, xảo trá đa nghi. Quan quân khởi nghĩa tạo phản bị giết đa số là kẻ khốn khó liều mạng, ngoài ra cũng có nhiều cường đạo lâm tặc. Lão Cao Lương Hán Tử mang theo mấy thủ hạ lớn gan đục mở quan tài, đôi mắt tham lam nhìn chòng chọc vào vàng bạc bên trong. Dưới ánh lửa chiếu sáng, chỉ thấy Tần vương ngửa mặt lên trời, đầu đội mũ vàng, miệng ngậm minh châu, chân đeo giày da, người mặc áo quan, trên áo thêu hình núi sông, cây tùng, chim hạc, lưng đeo đai ngọc, ôm trường kiếm trong ngực, tay nắm đĩnh vàng, mặt đầy vẻ âm dương kỳ quái!"

Nói theo thổ ngữ địa phương, Mã Lão Oa Tử là kẻ miệng lưỡi giảo hoạt, nửa lít rượu cao lương uống xuống bụng liền văng nước miếng khoác lác, chém gió cứ như tận mắt hắn nhìn thấy vậy: "Trong quan tài, trên người Tần vương phủ một chiếc cẩm bào, xung quanh đầy bảo vật chôn theo. Quân phản loạn xông vào thấy Tần vương chẳng khác gì người sống, trên mặt đầy âm dương quái khí, còn tưởng rằng Tần vương đã biến thành hung thần, vô cùng kinh sợ, không ai dám tiến lên lấy bảo vật. Lão Cao Lương Cán Tử liền tiến lên, rút trường đao ra, dùng đầu đao khều cẩm bào trên người Tần vương ra. Không thể ngờ khi hắn vừa vén lên một cái, Tần vương bên dưới bỗng biến thành bộ xương khô, dọa Lão Cao Lương Hán Tử giật mình kinh hãi, cẩm bào tuột khỏi đầu đao rơi xuống, bộ xương khô lại biến trở lại thành mặt mũi như người sống, lúc đó hắn mới hiểu được. cẩm bào kia chính là bảo y!"
Ban đầu tôi nghe Mã Lão Oa Tử nói còn tạm nghe được, càng về sau quá nửa là chém gió, nói quàng nói xiên, vòng vo cố làm ra vẻ huyền bí, tôi cũng không muốn nghe hắn nói liên thiên nữa.
Mã Lão Oa Tử thấy chúng tôi không tin, không thể làm gì hơn đành nói rằng chuyện kỳ trân dị bảo trong cung Tần vương kia, tất cả đều là nghe được từ miệng đám Oa tử chăn dê truyền lại, qua mấy trăm năm, người đã chết hết từ lâu rồi, lời truyền miệng có thể cũng bị sai lệch đi nhiều rồi, không còn đúng tuyệt đối được nữa. Nói xong câu này, hắn vào phòng mang ra một cái bọc nhỏ cuốn năm ba lớp, mở từng lớp từng lớp ra, bên trong là một chiếc bát gốm lớn, lớp gốm mỏng, lớp men tráng dày, hoa văn xanh như nước, nổi lên hình một con rồng xanh đang giương nanh múa vuốt.
Hắn không để chúng tôi chạm vào, tôi sáp lại gần quan sát một hồi, trong bụng giật mình mấy cái, theo tiếng lóng mà nói, cái này gọi là "Quỷ kiếm nhi thanh" (Mặt quỷ xanh - Màu xanh của quỷ)!
avatar
Lưu Hà
Admin

Tổng số bài gửi : 164
Points : 288
Reputation : 1
Join date : 09/09/2016

Xem lý lịch thành viên http://lachoncoc.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Re: [Tiểu Thuyết Huyền Huyễn, Trộm Mộ] Mô Kim Hiệu Úy Cửu U Tướng Quân- Thiên Hạ Bá Xướng

Bài gửi by Lưu Hà on Wed Nov 23, 2016 9:13 pm

Chương thứ hai: Hội tranh trống (Tiết 5)


Click để xem:
5
Đại Kim nha tiến lại ngửi một cái, cảm thấy là đồ thật, không sai được, giá trị không nhỏ, hơn nữa đồ vẫn còn nguyên vẹn chưa bị sứt mẻ gì, hoa văn rồng xanh màu nước rất có giá.

Cái này thời xưa gọi là đồ sứ Quan Diêu, tới nay hầu hết đã không còn truyền lại, phần lớn đồ này là đào trộm từ trong cổ mộ. Thứ này là một trong năm món đồ cúng khi Hoàng thượng cúng tế thần linh tên gọi là chén rồng, màu sắc u ám, dân gian thường gọi là "Quỷ kiểm thanh" (mặt quỷ xanh), tương truyền rằng do bị chôn vùi lâu năm trong mộ nên chén có màu đó.

Bàn tử nói: "Mã Lão Oa Tử lão được lắm, không ngờ lão lại chân nhân bất lộ tướng như vậy! Thật là hay nha. Lão còn thứ gì khác nữa mau mang hết ra, ông đây sẽ trọng thưởng!"

Tôi hỏi Mã Lão Oa Tử: "Đây thực sự là vật chôn theo Tần vương sao? Lão muốn bao nhiêu tiền?"

Nói tới đoạn này, Mã Lão Oa Tử liền lựa lời phân trần, lão nói các người tới sớm không bằng tới đúng dịp, sau khi phản quân trộm cướp đồ xong liền hủy hoại huyền cung của Tần Vương, chúng còn đào một cái rãnh sâu trên núi, đến nay vẫn còn. Mấy ngày trước, có hai người bẫy dê đi vào, vấp phải nửa tảng đá ngã lộn nhào, vén cỏ dại ra nhìn thì thấy tảng đá kia chính là đầu tượng đá trấn mộ của ông Trọng. Theo truyền thuyết, ông Trọng là mãnh tướng thời cổ đại, vô cùng kiêu dũng, từ Tần Hán tới nay thường dùng tượng của ông ta để trấn mộ, có tượng trấn mộ cho dù không phải cũng được gọi là là tượng ông Trọng. Dân gian gọi là "Ngõa Gia".

Hai người đó nổi lòng tham định đào tượng đá của ông Trọng khiêng đi, không ngờ lúc dịch chuyển tượng đá phát hiện dưới chân ông Trọng có một khối đá, gạt ra nhìn xuống thì thấy một cửa hang đen thùi lùi. Một người to gan buộc dây vào lưng trèo xuống, lúc lên ôm theo cái chén lớn này. Hắn ta chỉ nói bên dưới rất sâu vẫn còn có đồ có thể nhặt, lại đeo túi gai, cầm bó đuốc đi xuống. Không ngờ lần này một đi không trở lại!

Không biết ở dưới đó gã đã gặp phải cái gì, sống không thấy người, chết không thấy xác. Hai người bẫy dê đó là hai anh em, người anh tên Mã Lẫm, người em là Mã Xuyên, cả hai đều là cô nhi được Mã Lão Oa Tử nhặt về. Mã Lẫm to gan vào động, Mã Xuyên đợi ở cửa hang, đợi nửa ngày mà vẫn chưa thấy lên, lại không dám xuống tìm, đành chạy về báo tin cho Mã Lão Oa Tử biết. Mã Lão Oa Tử chân đi còn không vững, lên núi rồi cũng không xuống được động. Có điều thấy chiếc chén rồng này trong lòng đã hiểu rõ, bên dưới chắc chắn có đồ!

Lão bảo Mã Xuyên: "Bịt kín cửa hang, ngàn vạn lần không được tiết lộ, nếu không Mã Lẫm có thể sẽ chết vô ích!". Lão nghĩ không thể tìm người ở Cửa Điện để làm ăn vụ này, thứ nhất là vì căn bản khó có người phù hợp, thứ hai là sợ lộ, một khi tin này truyền ra, một phần lão cũng chưa chắc đã được chia.

Mã Lão Oa Tử bảo chúng tôi cùng lão lên núi, tìm tới chỗ Mã Lẫm chui xuống rồi mất tích. Nếu như lấy được đồ thì đôi bên chia đều, lão cùng với Mã Xuyên một nửa, chúng tôi một nửa. Chỉ cần chúng tôi đồng ý đi, cho dù có đồ hay không, lão cũng sẽ nhượng lại "Quỷ kiểm thanh" cho chúng tôi, giá cả phải chăng, nếu không có đưa bao nhiêu tiền hắn cũng sẽ không bán.

Tôi định nói tôi không muốn đi, nhưng Bàn Tử và Đại Kim Nha không chịu, hai người họ khuyên sống khuyên chết, nói rằng dù sao cũng mất công đi một chuyến tới đây rồi, nếu không đi thì "Quỷ kiểm thanh" cũng không thu được, thành ra tốn công vô ích!

Mã Lão Oa tử kể khổ với tôi, lão nói con nuôi lão một thằng vì tham lam mà đi lượm bảo vật, bây giờ đã mất tích trong động, giờ trong nhà chỉ còn lão già cà nhắc này với thằng bé Mã Xuyên còn dại, không còn ai nương tựa. Gạo trong hũ không còn một hạt, túi chẳng có lấy một đồng, từ nay về sau làm sao mà sống. Giờ sự thực là chỉ còn trông cậy vào mấy món minh khí này thôi.

Tôi thử nhìn đánh giá con người lão, lão không đòi gà, không đòi vịt, ngan ngỗng. Lời nói, cử chỉ cũng không có vẻ gì là kẻ lừa bịp! Tôi vốn là người thích mềm không thích cứng, chịu không nổi khổ nhục kế, trước giờ thua thiệt cũng đều là vì vậy. Hơn nữa nếu tôi nói ra hai chữ "không đi", "Quỷ kiểm thanh" của Mã Lão Oa Tử chúng tôi cũng đừng mong có được. Có điều tôi cũng không lên tiếng, chỉ nhìn bằng ánh mắt coi như là đã đồng ý!

Sáng sớm hôm sau, Mã Lão Oa Tử cùng với Mã Xuyên nai nịt gọn gàng, mỗi người vác theo một khẩu súng săn, chuẩn bị dẫn chúng tôi lên núi. Tôi hỏi lão mang súng săn theo để làm gì? Lão nói: "Vùng đất Ngọc hoàng bảo điện này là đất phong thủy vượng, mấy trăm năm nước cây cối um tùm cổ thụ, muông thú có nhím, hồ ly, báo kim tiền, hươu nai… nhiều vô số, đến nay vẫn còn loài huyền dương (một loài dê quý). Huyền cung của Tần vương ở trên núi này, thế núi hiểm trở, lên xuống ít nhất cũng phải mất hai ngày, núi thẳm hang cùng, hiếm có dấu vết con người, nên cũng phải coi chừng Phệ Mao Sát nữa!"

Tôi nghĩ trong đầu: "Mã Lão Oa Tử này mang theo súng săn là mượn cớ để bẫy dê thôi, sao còn nói phải đối phó với hung sát nữa, lão chỉ hù dọa người hay là có dụng ý khác?"

Lúc ra cửa, chúng tôi vận thủy hỏa y, khoác áo da chuột, riêng tôi còn mang theo dù kim cương và móng lừa đen, cũng nai nịt gọn gàng, đeo túi đựng đèn pin, nến, dây thừng, móc câu và những vật cần mang theo trên lưng.

Trước khi vào núi, tôi nói với Đại Kim Nha và Bàn Tử: "Quan Trung là địa bàn của thổ phỉ, giết người cướp của như cơm bữa, trên người chúng ta mang theo tiền, lên đỉnh núi cần phải cẩn thận đề phòng, cũng đừng đối địch với Mã Lão Oa Tử!"

Bàn Tử nói: "Súng bắn chim cũng chưa chắc đã bằng cây gậy nhóm lò, anh sợ hai tên oa tử chăn dê sao?"

Đại Kim Nha nói: "Mã Lão Oa Tử tham thì tham thật nhưng không có lá gan lớn như vậy, hơn nữa nếu sau này hắn có định dở trò gì cũng không gạt được hỏa nhãn kim tinh của hai người các ngươi!"
Bàn Tử nói: "Tôi chỉ lo không tìm được minh khí, anh có nghe Mã Lão Oa Tử nói không, lão nói Cửa Điện của bọn lão toàn là bảo vật, lời của lão mẹ nó đúng là như con nít đánh rắm, anh nhìn chỗ này xem, toàn là núi hoang chắc gì đã có bảo vật."

Tôi nói: "Có thể là do phản quân lúc đào hủy Tần vương huyền cung quá tàn nhẫn đã phá mất long mạch phong thủy của Cửa Điện, tình thế năm đó chúng ta ccũng không thể biết."

Ba người thôi bàn luận, đi theo Mã Lão Oa Tử và Mã Xuyên dẫn đường phía trước, đào cửa điện đi vào, thẳng đường núi mà đi. Hướng tây bắc núi non hùng vĩ im lìm, chỉ có duy nhất một con đường tiến lên, khắp mọi nơi đều là cỏ mọc um tùm, nói là có chó sói, huyền dương, nhưng đi hơn nửa ngày cũng chẳng thấy dù chỉ là một con chim.
avatar
Lưu Hà
Admin

Tổng số bài gửi : 164
Points : 288
Reputation : 1
Join date : 09/09/2016

Xem lý lịch thành viên http://lachoncoc.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Re: [Tiểu Thuyết Huyền Huyễn, Trộm Mộ] Mô Kim Hiệu Úy Cửu U Tướng Quân- Thiên Hạ Bá Xướng

Bài gửi by Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết